Tổng số lượt xem trang

Chủ Nhật, 8 tháng 12, 2013

Cái chết tức tưởi và khó hiểu của Stalin

Suốt 2 ngày trời Stalin bị tai biến, không một bác sĩ nào được gọi đến.

Có một nhân vật mà lịch sử đã tốn không ít giấy mực khi viết về ông, ca ngợi có, lên án cũng có, đúng như lời tiên đoán của ông trước khi mất rằng: “Sau khi tôi mất đi, chắc chắn có nhiều kẻ đổ rác trên nấm mồ của tôi”. Nhân vật đó chính là nhà lãnh tụ Xô Viết Joseph Stalin. Ông mất năm 1953, nhưng trong suốt 60 năm qua, người ta vẫn không ngừng nghiên cứu về ông, về cả cái chết đầy bí ẩn của ông.

Đã có không ít những nghi vấn xoay quanh cái chết của nhà lãnh tụ Xô Viết này và trong suốt nhiều năm nay người ta vẫn cố công đi tìm sự thật. Mới đây, Cục lưu trữ Nga đã bất ngờ công bố những tài liệu quý về Stalin khiến không ít những cái đầu tò mò cảm thấy thỏa mãn vì có thể phần nào giải đáp được những hoài nghi, thắc mắc của họ về nhân vật này.

Người đàn ông trong khu biệt thự đồng quê

Khi đó ở tuổi 73, Stalin vẫn là một người hăng say với công việc. Ông vẫn làm việc 15 đến 16 tiếng đồng hồ mỗi ngày. Dường như ông vẫn muốn nắm mọi thứ, muốn biết tất cả, đọc và ghi chú một lượng báo cáo khổng lồ, dự vô số cuộc họp, thảo ra các thông cáo, chỉnh sửa các bài báo, viết lại các sách về lịch sử và tiếp tục soạn thảo các lý luận chính trị. Đôi khi ông cũng dành chút thì giờ cho những vấn đề nhỏ nhặt như viết thư trả lời cho một nhà giáo bất mãn với cấp trên, hay một công nhân đang cần một lời khuyên từ ông.

Stalin vẫn ăn mặc rất giản dị, với những bộ quần áo đơn sơ, chiếc nón kết cũ và đôi giày bốt đã sờn. Đôi khi ông mặc nguyên quần áo, ngủ quên suốt đêm trên chiếc ghế sofa. Về sức khỏe, ông yếu hẳn đi từ sau khi chiến tranh chấm dứt. Những người thân cho biết, đôi khi ông ngất xỉu vì lao lực. Ông bị thấp khớp trầm trọng và nghiêm trọng hơn là một chứng bệnh ở não đã gây ra những giây phút lú lẫn và hoang tưởng.

Ngay cả trong hành lang điện Kremli, Stalin chỉ di chuyển khi có cả một đội ngũ cận vệ đi phía trước và phía sau hộ vệ. Khi đi ra ngoài, ông sử dụng ba chiếc xe hơi, trong đó có hai chiếc nhằm đánh lạc hướng. Chỉ có những đầu bếp trung thành mới được nấu ăn cho ông, và các chai rượu đặt trên bàn phải còn nguyên nắp.

Văn phòng của ông trong dinh thự chính phủ được coi như nhà ở thực thụ, một nhà nghỉ rộng mênh mông và tiện nghi ở Kountsevo là những ngôi đền thánh được giám sát chặt chẽ, được bảo vệ bởi những cận vệ đã qua chọn lựa gắt gao, và chỉ nhận lệnh trực tiếp từ Stalin.

Nếu vào cuối ngày, Stalin muốn giải trí một chút ở nhà hát Bolchoi hay trong phòng chiếu phim của điện Kremli, thì luôn có những người tâm đầu ý hợp trong chính phủ đi kèm. Những buổi tối như thế nhất thiết phải kết thúc tại Kountsevo, cách điện Kremli nửa tiếng đồng hồ đi ô tô. Khi đó Stalin nghỉ ngơi ở một trong những căn phòng của mình, đôi khi trên chiếc ghế dài ở một trong những phòng khách.

Vào cuối buổi chiều ngày 28/2/1953, sau một ngày đọc báo cáo, nói chuyện với các cận vệ, đi dạo trong khu vườn tuyết phủ rồi thư giãn bằng cách tắm hơi, Stalin đến điện Kremli và gặp bốn đồng chí quen thuộc, trong đó có thêm Thống chế Vorochilov – một trong những lãnh đạo quân đội hiếm hoi còn được ông ưu ái. Sau cuộc họp khoảng hai mươi phút thì các lãnh đạo cao cấp kia xem phim, còn ông rời văn phòng làm việc và trở về nghỉ ngơi tại khu biệt thự đồng quê của mình ở Kountsevo.

Stalin. 

Vào khoảng 23h, những người đồng chí ghé khu biệt thự của Stalin, có vẻ như là họ muốn thăm ông. Như thường lệ, đó là một buổi tối nghiêm túc và vui nhộn. Họ nói chuyện với nhau về kinh tế, và nhiều hơn một tí về chiến tranh Triều Tiên... Vào khoảng 4 giờ sáng, Stalin tiễn chân các khách mời đến tận những chiếc Limousine của họ. Ông ta nhìn họ khuất dần, trở về căn phòng ấm cúng, cho các cận vệ đi nghỉ, rồi thả người trên chiếc ghế sofa trong phòng ăn. Người ta đóng cửa lại. Ánh sáng trong ngôi nhà nghỉ lần lượt được tắt đi.

Stalin thường đi ngủ rất muộn và không ai dám đánh thức ông dậy. Từ vệ sĩ, những người giúp việc cho tới quản gia, không ai có quyền bước vào phòng nếu không được gọi. Ông thường ngủ đến 10 hay tận 11 giờ trưa hôm sau. Có thể nói giấc ngủ của ông là bất khả xâm phạm. Do vậy vào sáng ngày 1/3, khi mặt trời đã lên cao, ánh nắng đã chiếu rọi cả vào phòng thì ông vẫn chưa dậy.

Người quản gia không dám đánh thức ông. Các cận vệ chờ đợi được gọi vào. Thời gian trôi qua, nhưng không ai lo lắng cả. Lãnh tụ có thể đã thức dậy làm việc trong đêm, hoặc đang tập trung vào mớ hồ sơ. Ông có đầy đủ đồ ăn thức uống trong phòng. Có thể là ông không muốn ai làm phiền.

12 giờ trưa, rồi 13 -14h vẫn chưa thấy lãnh tụ ra ngoài như thường lệ. Tâm trạng lo ngại mơ hồ có thể cảm thấy nơi những cận vệ và phía người quản gia. Bất chợt vào khoảng 18h30 mới có ánh sáng đèn trong phòng ông, đội cận vệ nhẹ lòng được một chút. Đến 22h, một chiếc xe hơi của điện Kremli mang đến các thư từ và hồ sơ. Trưởng đội cận vệ trực hôm ấy, Lozgatchev, vẫn còn do dự nhưng rốt cuộc quyết định bước vào gian phòng ăn nhỏ.

Khi cánh cửa được dè dặt mở ra, anh hiểu vì sao đã không được triệu đến trong ngày: Stalin nằm dài trên thảm trải sàn, mặc chiếc áo lót mình, còn chiếc quần pyjama thì ướt đẫm nước tiểu. Lozgatchev vội chạy đến và nhận ra Stalin vẫn còn sống, nhưng không nói được nữa, chỉ rên nhỏ. Chiếc đồng hồ và tờ báo Pravda rơi dưới đất. Đồng hồ ngưng ở vạch 6h30.

Đại tá Starotsine và quản gia Boutouzova được gọi đến. Người ta đưa ông lên chiếc ghế sofa, rồi chuyển sang một chiếc ghế dài khác trong phòng ăn lớn, thoáng khí hơn. Tuy nhiên, không một cận vệ nào cảm thấy sự cần thiết phải gọi một bác sĩ ngay lập tức bởi họ lo sợ việc này có thể gây hậu quả xấu trong thời điểm bị cho là có vụ âm mưu phản loạn “áo choàng trắng”.

Và Khrustalev đã gọi điện khẩn cho bộ chính trị, nhưng đầu dây bên kia chậm trả lời và không nhanh chóng gọi cấp cứu. Chính sự chậm trễ gọi bác sĩ trong thời điểm cần thiết và duy nhất để cứu tính mạng Stalin đã gây nghi ngờ rằng ông bị đội trưởng đội bảo vệ tiêm thuốc ngủ theo lệnh của giám đốc KGB Beria.


Đến ba giờ sáng, tức hơn 20 tiếng đồng hồ sau khi Stalin bị tai biến, Beria và Malenkov mới đến nơi. Beria quát mắng các cận vệ đang nài nỉ gọi bác sĩ. Ông ta và các quan chức chính phủ muốn tận mắt xem có phải đúng là ông bị trúng gió như lời bà phục vụ đã nói không. Beria cho rằng ông chỉ đang ngủ, những tiếng thở dốc của ông có thể bị lầm tưởng là tiếng ngáy.

Ông ta còn chặn họng viên cảnh vệ và bà phục vụ: "Các người còn hoảng loạn nỗi gì? Đi ngay khỏi đây, cấm không được phá rối giấc ngủ của lãnh tụ”. Ông ta còn đe dọa sẽ tính sổ với họ rồi cùng với các quan chức chính phủ đi ra xe. Nhưng chỉ sau đó vài giờ, họ lại trở lại vì bà phục vụ và các nhân viên cảnh vệ đã bực tức không thể kiên nhẫn được nữa.

Có thể Beria đã hiểu rằng Stalin sẽ không qua khỏi nếu không được chạy chữa. Nhưng nếu không cố gắng cứu chữa cho Stalin thì vẫn hơn. Quyền lực đang bỏ trống, và tốt nhất nên nắm lấy. Cuối cùng các quan chức chính phủ yêu cầu phải đưa người bệnh sang một phòng bên cạnh, cởi bỏ quần áo cho ông và đặt ông lên giường.

Lúc đó các bác sĩ vẫn chưa tới và nhìn từ góc độ y học, có thể nói việc đưa người bệnh rời khỏi chỗ ngã là không có lợi, khi người bệnh bị trúng gió thì không nên di chuyển. Và một điều cần phải nói là những bác sĩ ở ngay gần đó cũng không được gọi tới khám cho Stalin.

Trong khi ông nằm chờ được cứu chữa thì Beria và ba ủy viên “Bộ Chính trị cơ động” tranh luận gay gắt để phân chia quyền hành, củng cố vị trí mình và giữ cho các đối thủ tiềm năng phải đứng ngoài cuộc. Các cận vệ và người hầu cận ở Kountsevo nhận lệnh không được tiết lộ những gì đã xảy ra. Thế nên thêm một ngày nữa trôi qua, mà không có bác sĩ nào được mời đến.

Cuối cùng, các nhân viên của MGB và Maria Boutouzova, càng lúc càng lo lắng, cố gắng liên lạc lần nữa với Malenkov. Ông này xiêu lòng, bèn gọi cho Beria và Khrouchtchev, hai người này đùn đẩy sang Bộ trưởng Y tế Tratiakov. Rốt cuộc ông bộ trưởng cho gửi đến một toán y bác sĩ do giáo sư Loukomski dẫn đầu. Họ đến nơi vào lúc 7 giờ sáng ngày 03/03, tức 48 giờ sau khi Stalin gặp nạn.

Một cái chết khó hiểu

Đến lúc này Stalin mới được các bác sĩ thăm khám. Họ run rẩy vì sợ hãi, bắt tay vào công việc. Họ cởi quần áo bệnh nhân, gỡ bộ răng giả ra và chẩn đoán. Nhịp tim và huyết áp thấp, nửa người bên phải bị liệt, nửa người trái bị những cơn co giật. Kết quả tỏ ra bi quan: Stalin bị xuất huyết não trái, nặng đến nỗi có thể chắc chắn rằng ông ta không bao giờ còn làm việc được nữa.

Các bác sĩ kê toa thuốc để rửa và đặt những con đỉa sau tai trái. Rồi đáng sợ thay, đội ngũ hùng hậu ra đi, để lại một bác sĩ thần kinh, một bác sĩ đa khoa, một nữ y tá. Người bệnh được chỉ định là phải…nghỉ ngơi và ăn kiêng.

Vào cuối ngày, các thành viên Bộ Chính trị trở về điện Kremli. Việc điều hành tạm thời được giao cho Malenkov. Vị trí người đứng đầu an ninh nội chính của Beria càng vững chắc hơn. Cùng với Malenkov và Khrouchtchev, ông ta còn được giao trách nhiệm sắp xếp các giấy tờ của Stalin. Ba người này lập tức bắt tay vào công việc, mở các rương giấy tờ bí mật nhất và hủy đi tất cả những gì tố cáo họ có tham gia các vụ thanh trừng trong quá khứ và hiện tại.

Đến sáng 4/3 các đài phát thanh đã có thể công bố căn bệnh của Stalin. Sáng sớm 5/3, radio loan báo mạng sống của Stalin đang lâm nguy. Tại Kountsevo, Stalin dường như vẫn luôn ngủ trên chiếc ghế sofa, đôi khi có mở mắt, phát ra được đôi ba tiếng động nhưng không thể nào trả lời những câu nói được người ta thầm thì bên tai.

Sau này, con gái ông cho biết: “Có lúc ông bỗng mở mắt ra, nhìn bao quát những ai đang đứng xung quanh. Đó là một cái nhìn khủng khiếp, hoảng loạn và giận dữ, chứa đầy nỗi kinh hoàng trước tử thần và khuôn mặt của các thầy thuốc không quen biết bao quanh. Ánh mắt ấy bao trùm lấy chúng tôi trong một chớp mắt. Rồi ông giơ bàn tay trái lên – có thể là ông chỉ cho chúng tôi điều gì đó trên cao, hoặc là ông đe dọa tất cả mọi người. Hành động này khó thể hiểu được”.

Vào buổi sáng 5/3, Stalin yếu dần: buồn nôn, khó thở, ói ra máu, trụy tim mạch liên tục, biến chứng ở tim và ngộp thở. Đến buổi chiều hôm đó, ông trút hơi thở cuối cùng. Thi hài ông được đưa đi để phẫu thuật. Mọi người ở biệt thự đều tuân lệnh của Beria là rời khởi đây. Bà phục vụ, viên cảnh vệ, những người từng đòi gọi bác sĩ ngay lập tức để khám cho Stalin đã bị buộc thôi việc. Và tất cả mọi người ở đây đều được lệnh là phải giữ mồm giữ miệng.

Ngôi biệt thự bị đóng cửa, cửa lớn bị niêm phong giống như chưa từng có sự tồn tại của tòa biệt thự. Ngày 9/3, xác của Stalin được trọng thể đưa đến nơi an nghỉ cuối cùng tại lăng mộ ở Quảng trường đỏ.

Như vậy trong cái chết của Stalin rõ ràng là có bàn tay của Beria và những quan chức chính phủ. Một điều dễ nhận thấy là hành động của các quan chức chính phủ khi thấy Stalin lâm nạn khiến người ta khó hiểu. Vì sao sau khi nhận được điện báo của người cảnh vệ, Beria và những cộng sự của ông ta đã đến khu biệt thự mà họ không gọi ngay cho bác sĩ?

Khi họ nghe Beria nói rằng Stalin đang ngủ, đừng làm cho ông ta mất ngủ, thế là tất cả họ lại trở về nhà và điều này làm cho người ta cảm thấy kỳ quặc. Sự việc càng làm tăng thêm nghi vấn là, sau khi viên cảnh vệ phát hiện Stalin đang mặc quần áo ngủ nằm dưới nền nhà, vì sao anh ta lại không gọi y tá đến giúp sức? Cần biết rằng, thời gian quý báu đó đã bị bỏ lỡ.

Vấn đề cuối cùng này đã được trả lời ngay sau khi Stalin mất không lâu. Lãnh tụ Stalin đã xây dựng cho mình một đội con tin có một chế độ quản lý riêng, theo quy tắc làm việc tỉ mỉ đã được Beria phê chuẩn, nếu không được ông ta phê chuẩn thì bác sĩ không được đến chỗ Stalin. Biện pháp phòng ngừa này được áp dụng sau khi Viện sĩ Venogratop bị bắt.

Nói thực ra, “vụ án y tế” từng sôi động một thời bắt đầu từ Venogratop. Bác sĩ riêng của Stalin phát hiện thấy tình hình sức khỏe của ông đã xấu đi rất nhiều, viện sĩ đề nghị cần giảm bớt nhiều công việc quá căng thẳng, Stalin tỏ ra tức giận với việc chẩn đoán này. Từ đó, ông không cho phép viện sĩ vào căn phòng của mình nữa, và ít lâu sau, bác sĩ bị tống vào tù.

Khi Stalin qua đời, người ta phát hiện có một lá thư ngay trong phòng của ông, nó được viết bởi cố Tổng thống Nam Tư Josip Broz Tito, người đã cầm quyền cai trị nhà nước Nam Tư trong suốt 27 năm. Stalin đã cố gắng bằng mọi giá phải tiêu diệt Josip Broz Tito trong nhiều dịp khác nhau. Ông cảm thấy bất ổn với Tito vì Tito có cơ hội thoát khỏi các quốc gia Serbia, Croatia và Slovenia và đưa Nam Tư trở thành một nhà nước độc lập, thoát khỏi sự ảnh hưởng của Liên Xô.

Stalin luôn sống trong trạng thái cảnh giác với Tito và từng ám sát Tito đến 22 lần vào những năm sau Thế chiến II. Trong lá thư bí mật mà Tito gửi cho Stalin có lời tuyên bố rằng trong khi Stalin phái đi nhiều “thích khách” thì Tito chỉ cần một là đủ.

Chính điều này đã khiến sử gia danh tiếng người Slovenia Joze Pirjrvec nghi ngờ rằng Tito có thể ra lệnh cho một thích khách Nam Tư tiến hành ám sát Stalin. Tuy nhiên, xoay quanh cái chết của vị lãnh tụ Liên Xô một thời này vẫn còn trùng trùng nghi vấn mà có lẽ chỉ có nhân vật chính mới thực sự biết nó là gì.

Thứ Sáu, 6 tháng 12, 2013

10 xác ướp cổ nổi tiếng Việt Nam

Việc khai quật các xác ướp đã khẳng định cách đây nhiều thế kỷ, người Việt Nam đã sở hữu một công nghệ ướp xác mang tầm vóc thế giới...

Xác ướp có một vị trí quan trọng trong tiến trình phát triển nền văn hóa của nhân loại bởi chúng thể hiện trình độ phát triển của một nền văn minh, cũng như chứa đựng rất nhiều thông tin có giá trị truyền lại cho hậu thế.

Xác ướp bà phi dòng họ Trịnh

Ngôi mộ chứa xác ướp này bắt đầu được các nhà khảo cổ nghiên cứu từ năm 1957 tại tỉnh Thanh Hóa. Trước đó, mộ đã bị người dân địa phương đào, xác ướp bị đưa ra khỏi quan tài, vùi lấp tạm bợ giữa đồng ba ngày rồi chôn lại trong quan tài ngập nước gần một tháng.

Khi các nhà khảo cổ tiếp cận, xác ướp vẫn còn nguyên vẹn và bốc mùi dầu thơm. Sau đó, xác ướp được tắm lại bằng nước sạch năm lần vẫn không hết mùi thơm. Bộ xiêm y của xác ướp còn rất tốt dù đã bị người đào phá rách.

Bia mộ đề thời gian chôn cất thuộc niên hiệu Vĩnh Trị (1676 – 1680). Quan tài chứa xác ướp được đóng bằng gỗ ngọc am. Những hiện vật còn sót lại là sáu chiếc áo gấm thêu kim tuyến. Xác ướp được các chuyên gia xác định là một bà phi thuộc dòng họ Trịnh.

Điểm đặc biệt của ngôi mộ này là dấu vết của dung dịch bảo quản xác lan tỏa ra ngoài khiến vùng đất quanh mộ nhiễm mùi thơm một thời gian dài mới hết.

Xác ướp vua Lê Dụ Tông


Các chuyên gia xem xét xác ướp vua Lê Dụ Tông. 

Mộ vua Lê Dụ Tông được tìm thấy từ năm 1958, tại thôn Bái Trạch, xã Xuân Giang, huyện Thọ Xuân tỉnh Thanh Hóa. Đến năm 1964, mộ mới được khai quật.

Khi được khai quật, thi hài vua Lê Dụ Tông đã bị đét lại, có màu xám nhạt nhưng sau đó toàn thân chuyển thành màu xám đen. Các khớp xương của nhà vua vẫn còn có thể co duỗi mềm mại và nhiều vùng da thịt vẫn còn đàn hồi. Chất dầu thơm ngấm vào da, và qua da vào các tạng nên sực mùi thơm.

Quan tài của vua Lê Dụ Tông được làm bằng gỗ quý sơn son. Hiện vật gồm chăn bông, vải liệm, áo mặc, giấy bản… đẫm dầu thơm. Những chiếc áo hoàng bào, long bào có thêu nhiều hình rồng năm móng, khăn gấm thêu hình rồng cùng tấm bia đá khắc chữ Lê triều Dụ Tông hoàng đế đã khẳng định thân thế của nhà vua.

Việc tìm thấy xác ướp vua Lê Dụ Tông là một phát hiện chấn động trong ngành khảo cổ và sử học Việt Nam đương thời.

Xác ướp vua Lê Dụ Tông được bảo quản ở tầng hầm Bảo tàng Lịch sử Việt Nam trong 46 năm và được hoàn táng tại tỉnh Thanh hóa vào tháng 1/2010.

Xác ướp bà Phạm Thị Đằng

Ngôi mộ chứa xác ướp nằm ở một gò đất của thôn Vân Cát, xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Cuộc khai quật diễn ra trong tháng 11/1968.

Ngôi mộ cổ này xây theo kiểu trong quan ngoài quách, được bảo vệ một cách rất chắc chắn và bí mật. Bên ngoài quan tài là lớp quách dày gần 30cm, được đổ bằng 13 mẻ hợp chất cứng, bền, rất khó phá. Quan tài dày gần 10cm, bằng gỗ ngọc am và gỗ lim ghép lại với nhau.

Tình trạng của xác ướp trong mộ khá hoàn hảo. Đó là người phụ nữ khoảng 60 tuổi, tóc dài chớm hoa râm, làn da toàn thân vẫn trắng mịn, mềm mại, các khớp chân, tay có thể co duỗi dễ dàng. Xác ướp của hốc mắt vẫn còn rõ lòng đen, trắng, hai hàm răng nhuộm đen cũng chưa rụng chiếc nào...

Xác ướp được mặc 35 chiếc áo thụng bằng gấm, lụa, 18 chiếc váy vải, lụa. Các hiện vật khác gồm hàng chục chiếc gối chèn lớn nhỏ, quạt nan giấy, túi trầu bằng gấm thêu với 10 miếng trầu đã têm và 10 miếng cau tươi, túi gấm đựng thuốc lào, khăn lau miệng bằng lụa, mũ lụa.

Chuỗi hạt trong mộ bà Phạm Thị Đằng.

Điều đặc biệt là trên ngực xác ướp còn được đặt một chuỗi tràng hạt kết bằng 101 hạt gỗ đen, và một túi gấm đựng hai quyển Đại tạng kinh và Tu tinh thổ tiệp kinh.

Về sau, xác ướp được xác định là bà Phạm Thị Đằng, phu nhân của quan thượng phụ Đặng Đình Tướng (1649 - 1735).

Xác ướp bà Bùi Thị Khang

Mộ bà Bùi Thị Khang bị bom Mĩ quật lên vào năm 1971 tại gò Lăng Dứa, xã Thượng Lâm, huyện Mỹ Đức, Hà Tây. Cũng như Phạm Thị Đằng, bà Bùi Thị Khang cũng là phu nhân của quan thượng phụ Đặng Đình Tướng.

Thân thế của bà được xác định qua tấm minh tinh (tấm vải rất dài viết chữ Hán cho biết thân phận của người chết) trong quan tài.

Mộ bà Bùi Thị Khang cũng có cấu trúc tương tự mộ bà Phạm Thị Đằng, nhưng xác ướp của bà không được bảo quản tốt bằng, nguyên nhân do nấm mộ của bà Khang bị bom đạn làm nứt vỏ quách.

Những đồ vật táng theo bà Bùi Thị Khang cũng ít hơn bà Đằng, chứng tỏ bà mất lúc Đặng Đình Tướng chưa làm quan lớn. Còn bà Đằng mất vào lúc phu quân của mình đã công thành danh toại lẫy lừng.

Dù bị tổn hại và không có nhiều hiện vật, mộ bà Bùi Thị Khang chính là chìa khóa để giải mả những uẩn khúc xung quanh mộ bà Phạm Thị Đằng, ngôi mộ có xác ướp được bảo toàn hoàn hảo cùng hệ thống hiện vật phong phú.

Xác ướp Đại Tư đồ Nguyễn Bá Khanh

Ngôi mộ cổ được phát hiện vào cuối năm 1982, ở xã An Vĩ, huyện Khoái Châu, tỉnh Hải Dương. Dân làng phát hiện ra ngôi mộ này khi đào mương thoát nước và đã tự ý bật nắp ngôi mộ mà không thông báo cho chính quyền địa phương.

Khi các nhà khảo cổ tiếp cận hiện trường, xác ướp trong ngôi ngôi mộ đã bị oxy hóa, bốc mùi hôi thối.

Ngôi mộ này được xây theo kiểu trong quan ngoài quách, với lớp quách là hợp chất được làm từ vỏ sò đốt cháy trộn với mật đường và xơ giấy bản, quan tài làm bằng gỗ ngọc am.

Xác ướp được mặc 12 lớp áo, để bên ngoài 20 bộ. Số vải dùng để khâm liệm là 500m2. Các hiện vật khác gồm một hộp đựng dầu bằng gỗ và một cái quạt. Tấm minh tinh với 72 chữ có ghi chức danh mạ vàng vẫn còn nguyên.

Danh tính của xác ướp được xác định là Đại Tư đồ, quan Thái giám Nguyễn Bá Khanh mất vào thế kỷ 18, thọ 64 tuổi.

Ngôi mộ này đã làm sáng tỏ nhiều phương diện về phong tục tập quán, nghề cổ truyền, về văn hóa của người Việt thế kỷ 18.

Xác ướp vợ chồng Bá hộ Hạ Quang Quới

Tháng 12/1985, các nhà khảo cổ bắt đầu khai quật một ngôi mộ cổ ở tỉnh Bình Dương. Theo khẩu truyền, đây là mộ của một thương gia nổi tiếng, đã được phong chức Bá hộ vào thời chúa Nguyễn, có tên là Hạ Quang Quới.

Mộ có cấu tạo khá lạ. Quách mộ được đúc bằng hợp chất vững chắc và được chia thành hai khoang rỗng. Bên trong hai khoang quách có hai quan tài được ghép bằng gỗ xẻ và chốt bằng đinh sắt. Nắp thiên có dạng khun tròn, đáy áo quan bằng phẳng có tô lớp vôi bên ngoài.

Xác ướp trong hai quan tài được xác định là một người đàn ông và một người đàn bà, đều đã bị phân hủy khá nặng nề. Trong đó, xác người đàn bà vẫn còn giữ lại được mái tóc màu ngà đỏ. Quần áo mặc trên hai xác ướp cũng bị phân hủy, để lại gần 60 chiếc cúc áo bằng đồng, mã não.

Những hiện vật thu được trong mộ rất phong phú, gồm một chiếc mão có gắn biển mạ vàng, một khuyên màu vàng, một di vật sắt hình móng ngựa, giấy sách, khung gỗ, đồ đồng có nồi, mâm, thau, siêu... Đồ sứ có tô, tách, muỗng, bình trà, bình rượu... Những hiện vật này thể hiện một vị thế và tiềm lực của một thương gia có tiếng trên đất Bình Dương ngày xưa.

Dù xác ướp không còn nguyên vẹn nhưng mộ vợ chồng Bá Hộ Hạ Quang Quới là một mộ song táng hiếm hoi được khai quật ở Việt Nam. Ngôi mộ này chứa đựng nhiều thông tin về đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội, tín ngưỡng của miền Nam Việt Nam trong một thời kỳ lịch sử.

Xác ướp bà Nguyễn Thị Hiệu

Ngôi mộ chứa xác ướp được khai quật năm 1994, tại khu vực Xóm Cải, quận 5, TP HCM. Theo lời đồn đại từ xưa, đây là mộ của một nhân vật đặc biệt trong vương triều nhà Nguyễn.

Xác ướp bà Nguyễn Thị Hiệu.

Mộ được chôn rất sâu, phải mất 40 ngày, 15 thanh niên mới đục đến được đáy quách sâu gần 8m. Vỏ quách kiên cố như tường thành, được làm bằng hợp chất gồm vỏ sò nung, cát, than gỗ và mật ong. Quan tài lớn hơn bình thường, được ghép bằng hai lớp gỗ qu‎ý. Dưới nắp quan tài là hai lớp chiếu cói và một lớp giấy bản dày hơn 5 cm.

Ngập trong chất dầu thơm có màu đỏ, xác ướp được bọc trong chín lớp áo vải, lụa, gấm quý. Đây là một phụ nữ trạc 60 tuổi, tóc cắt ngắn chớm vai, da dẻ mịn màng và hơi có màu đỏ sạm của dầu thơm. Các khớp xương của xác ướp vẫn còn co duỗi rất tốt, da thịt mềm mại, rất ít có dấu hiệu bị phân hủy.

Ngoài các đồ tùy táng thông thường, hiện vật trong mộ có nhiều vàng bạc, trong đó, có một đôi giày bằng vàng. Đây là trường hợp đặc biệt, khác hẳn với hầu hết các xác ướp đã từng khai quật. Đây có thể là lý do khiến huyệt mộ được đào sâu và xây dựng hết sức kiên cố.

Từ tấm minh tinh có dòng chữ Hoàng gia và nhiều hiện vật khác, danh tính người trong mộ dược xác định là bà Nguyễn Thị Hiệu, một nhân vật hoàng thân quốc thích dưới triều vua Gia Long.
Xác ướp bà Nguyễn Thị Hiệu hiện được bảo quản và trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử TP HCM.

Xác ướp ở vườn đào Nhật Tân

Ngôi mộ cổ tại vườn đào Nhật Tân, (Hà Nội) được phát hiện cuối tháng 4/2005. Những người phát hiện ra mộ đã tự ý phá nắp quách, nắp quan khi chưa có ý kiến của cơ quan có thẩm quyền.

Cấu trúc mộ cổ ở vườn đào gồm ba lớp. Lớp quách hợp chất ngoài cùng dày 1,5 cm làm bằng vôi vữa, mật, nước gạo nếp, giấy bản trộn. Kế tiếp là lớp quách gỗ bọc ngoài quan tài, dày 9 cm. Quan tài đóng bằng gỗ vàng tâm dày 10cm.

Xác ướp ở vườn đào Nhật Tân.

Xác ướp bên trong quan tài là một người đàn ông khoảng 60 tuổi, còn nguyên vẹn, được bọc trong nhiều lớp vải và ngâm dầu thơm. Xác ướp đã bị những người đào mộ làm xuất lộ trước khi có sự can thiệp của các nhà khảo cổ.

Các hiện vật trong mộ gồm có: gối đầu, gối chèn, đôi hia thêu, 4 áo lụa, 10 áo gấm, 9 áo liệm, hai túi vải (chứa các hiện vật có thể là trầu cau hoặc các vị thuốc). Các hiện vật cho thấy đây là một người giàu có, sống vào cuối thế kỷ 18.

Danh tính của xác ướp không được xác định. Xác ướp đã được liệm, đưa vào quan tài và chôn cất tại nghĩa trang Nhật Tân ngày 7/5/2005.

Theo nhận định của các nhà khảo cổ, đây là một trong số ít mộ có xác ướp và nhiều hiện vật còn nguyên vẹn ở miền Bắc Việt Nam.

Xác ướp Quận công ở Hưng Yên

Cuối năm 2007, doanh nghiệp tư nhân Phúc Nga đã phá hủy một ngôi mộ cổ nằm ở xã Trung Hưng, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên, gây nhiều bức xúc trong dư luận.

Theo lời kể của những người tham gia phá mộ, quách của mộ là một khối hợp chất khổng lồ, dày đến nửa mét. Không thể phá bằng cách thủ công nên họ đã dùng khoan máy để phá. Dưới nắp quách nặng hàng chục tấn là một quan tài lớn phủ sơn ta đỏ au. Khi quan tài bật nắp, mùi dầu thơm lan tỏa cả một vùng rộng lớn.

Trong quan tài là xác ướp một cụ ông, còn nguyên vẹn như khi mới chôn, da dẻ mềm mại, hồng hào. Xác ướp được bọc trong nhiều lớp quần áo, chăn gối và ngập trong tinh dầu mầu nâu, đặc sánh.

Những người phá mộ dùng dao, kéo cắt hết quần áo của thi hài ra để tìm châu báu. Xác ướp bị bẻ gập chân, tay, đầu cho vừa với tiểu sành và được chôn ở một mộ mới mà doanh nghiệp Phúc Nga xây sẵn.

Những đồng tiền cổ chôn theo xác ướp. 

Đồ tùy táng trong mộ gồm quần áo, chăn gối, những chiếc hài và hàng trăm đồng tiền cổ… bị những người phá mộ chia nhau và phân tán khắp nơi.

Theo lời kể của một người phá mộ, sau khi quật mồ ông Quận công, tất cả nhưng người tham gia phá mộ và ông chủ doanh nghiệp Phúc Nga đều không ngủ được, vì cứ nhắm mắt vào là như có người dựng dậy.

Dân địa phương không có tài liệu gì ghi chép về ngôi mộ cổ này. Người dân chỉ được nghe truyền miệng lại rằng, đây là ngôi mộ cổ của một ông Quận công thời Hậu Lê.

Xác ướp được cho là danh tướng Lý Thường Kiệt

Tháng 5/2010, giới nghiên cứu lịch sử Việt Nam xôn xao về một ngôi mộ được nhiều người tin là nơi an táng của Thái úy L‎ý Thường Kiệt.

Ngôi mộ vốn bị chôn vùi dưới một gò đất tại thôn Ngọc Quỳnh, thị trấn Như Quỳnh, tỉnh Hưng Yên, được người dân địa phương phát hiện vào năm 1979. Khi ấy, cho rằng trong mộ có vàng bạc châu báu, họ quyết định khai quật toàn bộ khu mộ với tâm lý tìm của cải.

Theo lời những người quật mộ kể lại, ngôi mộ là một khối rắn chắc như bê tông, rộng đến ba gian nhà, gồm hàng chục lớp kết thành. Ở bên trong là chiếc quan tài sơn 4 chữ Nho lớn, được người dân tạm dịch là “Đại thị công khanh” hay “Hoạn quan” trên ván quan.

Bên trong quan tài, dưới tấm vải liệm màu mỡ gà là xác ướp của một người đàn ông trong như đang nằm ngủ, đầu đội mũ cánh chuồn, râu tóc còn nguyên. Ban đầu, xác ướp lan tỏa mùi dầu thơm, nhưng sau đó nhanh chóng xạm đi và toả ra mùi xú uế.

Hiện vật kèm theo trong quan tài là 36 chiếc áo có chất liệu như vải lanh. Ngoài ra, còn một chiếc quạt, hai chiếc hộp gỗ đựng chất liệu giống sáp và khoảng 300m vải chèn trong quan tài.

Sau khi đào mộ, người dân địa phương đã dùng cào kéo xác xuống một hồ đất đào sẵn và lấp lại. Đến năm 1998, mộ lại được khai quật lần nữa. Lúc này xác ướp chỉ còn xương sọ và các xương lớn. Phần xương này được xếp vào tiểu và dân làng lập mộ xây cất để thờ cúng.

Con cháu họ Ngô viếng mộ ở thôn Ngọc Quỳnh vào cuối tháng 5/2010. 

Bằng phương pháp tâm linh, những người đứng đầu dòng họ Ngô ở Việt Nam cho rằng ngôi mộ chứa xác ướp trên là mộ của tướng Lý Thường Kiệt (có tên sinh thời là Ngô Tuấn). Tuy nhiên, giới sử học vẫn còn nhiều ý‎ kiến khác nhau về vấn đề này.

Theo giới khảo cổ học, cho đến nay, những mộ táng có chứa xác ướp (thượng gọi là mộ hợp chất) được khai quật ở Việt Nam đều có niên đại ở thời Hậu – Lê và thời Nguyễn. Những ngôi mộ này được kiến tạo rất công phu và tốn kém với quy mô rất đồ sộ, thường dành cho tầng lớp hoàng gia quý tộc, những người giàu có và quyền thế trong xã hội.

Mộ hợp chất có đặc điểm “Trong quan ngoài quách”. Lớp quách bên ngoài được đúc bằng một hỗn hợp gồm nhiều vật liệu khác nhau như vôi sống, vôi tôi, vỏ nghêu sò hay san hô nghiền vụn, cát, chất kết dính như mật, mật đường, mật ong, nhựa dây tơ hồng, ô dước, giấy gió, than hoạt tính… tạo nên một lớp bảo vệ kiên cố, không thấm nước. Các quan tài được đóng bằng gỗ quý, thường được ghép mộng, riêng ván thiên được đóng đinh rất chắc chắn.

Trong các mộ thường có một tấm ván 7 lỗ, được gọi là ván thất tinh. Dưới chiếc ván này thường được rải chè hoặc gạo rang. Phía trên ván thất tinh là thi hài. Các xác ướp thường được mặc rất nhiều lớp áo và chèn gối, vải xung quanh. Dưới tấm ván thiên thường phủ một tấm vải liệm thêu kim tuyến tên, tuổi và chức danh người chết, gọi là tấm minh tinh.

Các xác ướp được khai quật đều sũng một loại dầu thơm, là dung dịch bảo quản xác ướp của người xưa. Nhiều ý kiến cho rằng loại dầu này chính là tinh chất gỗ ngọc am mà người Trung Quốc gọi là san mộc.

Khi mới bật ván thiên các xác ướp đều có màu của da người tái nhợt và toả mùi dầu thơm. Tuy nhiên, chỉ vài phút sau xác chuyển sang màu đen sạm, mùi thơm cũng ấy biến mất, nhường chỗ cho một thứ mùi cực kỳ kinh khủng. Đây được coi là một hiện tượng bình thường của quá trình oxy hoá.
Dù phần lớn xác ướp tìm thấy đều là quan lại, vua chúa hay người giàu có nhưng thường chỉ chôn theo những đồ dùng rất đơn giản, không có chứa vàng bạc, châu báu hay các đồ tuỳ táng có giá trị vật chất cao.

Trước khi khai quật mộ, các nhà khảo cổ thường thực hiện các thủ tục tâm linh một cách cẩn trọng và thành kính.

Thứ Năm, 5 tháng 12, 2013

Tiết lộ về nữ tình báo nức tiếng của Việt Nam

Mười Hương là tướng tình báo nổi tiếng, nhưng ít người biết Việt Nam có một nữ tình báo với những chiến công lẫy lừng.

Người vẽ bản đồ phòng ngự Nam vĩ tuyến 17

Nữ tình báo đó không ai khác là đại tá, anh hùng LLVT Đinh Thị Vân. Bà nguyên là huyện ủy viên huyện Xuân Trường, Nam Định, hoạt động từ trong kháng chiến chống Pháp. Năm 1954, bà bắt đầu được điều sang công tác tình báo rồi theo đoàn người di cư vào Nam đặt cơ sở hoạt động tình báo từ năm 1955.

Lưới tình báo do bà xây dựng đã cung cấp cho quân ta nhiều tin tức có giá trị góp phần vào chiến công chung của ngành tình báo, mặc dù bà chưa một ngày học qua nghiệp vụ điệp viên. Một trong những thành tích đáng kể là điều tra tỉ mỉ hệ thống phòng ngự của quân đội Sài Gòn ở Nam vĩ tuyến 17 trong giai đoạn 1959 - 1960.

Thời điểm này, ta bắt đầu mở đường Trường Sơn vào Nam, rất cần những thông tin về sự bố phòng của quân đội Sài Gòn ở nam vĩ tuyến 17. Ngoài ra, còn cần tìm hiểu xem đối phương đã biết những gì về việc quân ta xuất hiện ở Hạ Lào. Nhiệm vụ đó được cấp trên giao cho Đinh Thị Vân.

Thiếu tá Đinh Thị Vân trong dịp phong anh hùng LLVT năm 1970. Ảnh: Wikipedia.

Bà Vân tức tốc rời Sài Gòn khi Tết Kỷ Hợi (1959) đến gần. Bà tìm đến một thành viên trong lưới của mình là Đinh Thế Phiệt. Người này từng là sĩ quan chỉ huy cấp đại đội ở trong sư đoàn 1 Sài Gòn. Mặc dù hiện tại Phiệt đã bị loại ngũ do để cho lính đánh nhau với đàn em của Ngô Đình Cẩn nhưng vẫn có quan hệ rất thân thiết với nhiều sĩ quan trong sư đoàn 1 – là đơn vị chính phòng thủ ở Nam sông Bến Hải.

Trong vai mẹ nuôi của Phiệt, bà Vân cùng với Phiệt ra Huế giả làm người đi du lịch, nhưng thực chất là để làm nhiệm vụ. Ở Huế, Phiệt đến thăm các sĩ quan bạn bè cũ. Phiệt mang theo cả máy ảnh nói là để chụp ảnh kỷ niệm nhưng cũng là để lợi dụng chụp những sự bố trí trong các doanh trại, hệ thống phòng ngự. Nhờ thế, chẳng bao lâu, một hệ thống phòng ngự của sư đoàn 1 đã bị bà Vân và Phiệt ghi nhớ hết.

Bà Vân lại hướng dẫn Phiệt tìm cách rủ viên tiểu đoàn trưởng tên Thọ ra giới tuyến thăm chiến hữu để tìm hiểu hệ thống phòng ngự ở Nam sông Bến Hải. Trong hồi ký Tôi đi làm tình báo, bà kể: “Tôi đã nhắc cậu Phiệt rủ Thọ ra thăm mấy đứa bạn ngoài giới tuyến. Hôm qua, hắn hứa rồi nhưng chưa quyết định ngày nào thì sáng nay, Thọ đánh xe tới. Hắn chạy xăm xăm vào nhà ghé sát tai cậu Phiệt hỏi: Có đi giới tuyến thăm mấy thằng ngoài đó không? - Cám ơn anh, thế thì còn gì bằng. Tôi nghe hai người trò chuyện với nhau mà lòng thì khấp khởi mừng. Như vậy thì mọi việc chắc chắn sẽ thuận buồm xuôi gió.

Thế là toàn bộ tuyến phòng ngự từ Huế ra đến Gio Linh, vị trí các trung đoàn, hệ thống công sự, bãi mìn cậu Phiệt đã nắm được khá chắc. Thọ còn để lộ cho Phiệt biết một số dự án tác chiến, hướng triển khai của các trung đoàn bộ binh. Phiệt đã quen địa hình nên nhận thức được rất nhanh”.

Với yêu cầu thứ 2 của cấp trên đặt ra, Phiệt không mấy khó khăn để dò la. Trong một buổi tối sau khi cơm nước xong, Thọ và Phiệt vẫn ngồi thì thầm với nhau chuyện quân sự. Chính lúc này, Thọ đã tiết lộ cho Phiệt biết về tin tức có sự xuất hiện của đối phương ở Hạ Lào. Thọ nói: “Có độ 5 tiểu đoàn thôi. Các ông trên chỉ thông báo đến cấp trung đoàn, nhưng có thằng tiểu đoàn trưởng nào mà không biết, 5 tiểu đoàn nhưng có thể không phải tất cả quân chiến đấu”.

Bà Đinh Thị Vân (đứng giữa) trong dịp phong anh hùng LLVT. Ảnh: Batinh.com.

Thực tế, Phiệt đã dò hỏi được thông tin này từ một sĩ quan khác nhưng vẫn muốn duyệt lại qua Thọ để xem sự nhận định trong đám sĩ quan sư đoàn 1 có thống nhất không để nắm rõ xem đối phương đã biết về hoạt động của ta ở Hạ Lào đến mức độ nào.

Rõ ràng ở vào thời điểm đó, việc nắm rõ hệ thống phòng ngự cho đến kế hoạch triển khai của các đơn vị quân đội Sài Gòn ở Nam vĩ tuyến 17 có giá trị rất to lớn. Có những thông tin ấy, ta sẽ chủ động hơn trong việc xác định các hướng xâm nhập vào Nam sao cho an toàn.

Lập nhiều chiến công lẫy lừng

Ngoài vụ trên, Đinh Thị Vân cùng với mạng lưới của mình còn lập nhiều chiến công khác. Chẳng hạn thông tin kịp thời về việc Mỹ sẽ đổ quân vào Nam Việt Nam sau khi chiến lược chiến tranh đặc biệt thất bại hay biết trước được kế hoạch của cuộc hành quân Junction City (Gian-Xơn-Xi-Ty) giúp quân ta chủ động đối phó làm thất bại âm mưu của chúng.

Để có được những thành công đó, Đinh Thị Vân đã dày công xây dựng một mạng lưới tình báo rất kỳ công. Đó là một việc làm rất lâu dài và cẩn trọng. Chẳng hạn để tạo tai mắt ở trong lực lượng không quân Sài Gòn, bà đã cho Đinh Văn Đoan nộp hồ sơ thi vào ngành này khi nó bắt đầu tuyển người và đã hướng dẫn cho Đoan những cách để làm sao lấy được lòng tin của các sĩ quan. Có lúc người ta thấy Đoan có tài năng định cho đi học lái máy bay, bà lại phải bày cách cho Đoan từ chối vì làm công việc văn thư mới dễ lấy tin tức.

Hay như trung úy Hà Đăng, vốn dĩ là con của một cơ sở cùng di cư năm 1955 với bà và khi còn nhỏ được bà đón về nhận làm con nuôi. Bà đã kiên trì thổi vào tâm hồn Hà Đăng từ khi còn thơ lòng tin và sứ mệnh phục vụ tổ quốc. Bởi thế lớn lên Hà Đăng đã đi học trường võ bị Thủ Đức rồi ra làm đại đội trưởng 1 đơn vị ở sư đoàn 5. Trong vị trí đó, anh đã nhiều lần báo cho quân ta biết trước những cuộc càn, hành quân của địch.

Vào năm 1959 đến 1964, bà bị bắt giam do sơ hở trên đường đi công tác. Tuy nhiên suốt 5 năm giam giữ với đủ các ngón nghề từ tra tấn thể xác đến ru ngủ tinh thần, bọn an ninh của quân đội và Đoàn công tác miền Trung của Dương Văn Hiếu vẫn không moi được chút tin tức nào từ bà. Trái lại, ở trong trại Lê Văn Duyệt, bà còn nhiều lần lên tiếng đấu tranh với các thủ đoạn tâm lý chiến của địch để thức tỉnh các anh em bị ru ngủ. Mãi đến năm 1964, do chính trường Sài Gòn lục đục đảo chính nhau liên miên, bà mới được thả ra.

Bà Vân (X) chia tay các đồng chí ở chiến khu Dương Minh Châu để ra Bắc năm 1969. Ảnh: Batinh.com.

Được tự do, bà liền xốc lại mạng lưới của mình và hoạt động tích cực. Đặc biệt, trong kế hoạch Mậu Thân, lưới tình báo của bà đã đóng góp nhiều thông tin cho Bộ chỉ huy chiến dịch về sự bố phòng của Sài Gòn và sự hiểu biết của địch về kế hoạch của ta. Do sức khỏe giảm sút vì bị tra tấn dã man, tháng 3/1969, bà được tổ chức đưa ra Bắc để điều trị và làm công tác huấn luyện tình báo. Một năm sau, ngày 25/8/1970, Nhà nước phong danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân để ghi nhớ công lao của bà.

Thứ Tư, 4 tháng 12, 2013

Chuyện ít biết về huyền thoại tình báo Việt Nam

Không lấy cắp tin tức mà tạo ra sóng gió trong hàng ngũ đối phương, hoạt động của Phạm Ngọc Thảo là một huyền thoại của tình báo Việt Nam.

Ông là ai?


Cuối thập niên 1980, bộ phim kinh điển Ván bài lật ngửa công chiếu đã làm nức lòng khán giả nước nhà. Hoạt động tài ba của điệp viên Nguyễn Thành Luân khiến công chúng hết sức ngưỡng mộ. Nhưng ít ai biết nguyên mẫu thật của Nguyễn Thành Luân còn vĩ đại hơn thế. Người đó là huyền thoại tình báo Phạm Ngọc Thảo.

Ông sinh năm 1922 trong một gia đình địa chủ lớn. Cha ông có hàng ngàn mẫu đất và được mang quốc tịch Pháp. Trong gia đình, Phạm Ngọc Thảo là con thứ 8 nên thường được gọi là Chín Thảo. Mặc dù lớn lên trong giàu sang nhưng ông sớm hoạt động cách mạng.

Khi Pháp quay lại xâm lược, Chín Thảo vừa tốt nghiệp trường Kỹ sư Công chính Hà Nội đã tuyên bố hủy quốc tịch Pháp rồi trở về Vĩnh Long theo anh cả tham gia kháng chiến. Trong kháng chiến, ông được cử ra học trường võ bị Trần Quốc Tuấn khóa đầu tiên. Trở về Nam Bộ, ông lần lượt làm Trưởng ban Quân báo Nam Bộ rồi tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 10.

Phạm Ngọc Thảo. Ảnh: Life.
Sau hiệp định Geneve, nhiều cán bộ Việt Minh tập kết ra Bắc nhưng đồng chí Lê Duẩn chỉ thị cho Thảo ở lại miền Nam để hoạt động tình báo. Các điệp viên thường phải xóa lý lịch của mình trước khi hoạt động, nhưng Phạm Ngọc Thảo được chỉ đạo công khai lý lịch từng đi kháng chiến của mình khi tiếp cận gia đình họ Ngô.
Trong cuốn Trần Quốc Hương – người chỉ huy tình báo của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Hải, ông Hương giải thích: “Phải nhìn thấy đặc điểm của anh em họ Ngô. Họ không là loại tay sai của bơ sữa như Tâm, Hữu, mà cố gắng thể hiện tinh thần quốc gia theo kiểu của mình, quốc gia chống cộng. Họ mơ tìm sử dụng người như phía ta đã tôn vinh cụ Hoàng Minh Giám. Cụ không phải cộng sản, sao cộng sản vẫn dùng người tài. Đó là mơ ước của anh em họ Ngô. Vậy nên Thảo phải nhập vào bằng cách đó, một người giỏi, có kháng chiến, yêu nước nhưng Quốc gia, không Cộng sản. Anh em Diệm rất cần”.

Thông qua Ngô Đình Thục là chỗ quen biết cũ với gia đình, Chín Thảo đã tiếp cận được anh em Diệm – Nhu. Để Diệm biết đến mình, Phạm Ngọc Thảo bắt đầu viết báo. Những bài bàn về chiến lược, chiến thuật lấy dẫn chứng từ các cuộc chiến tranh cổ đại của Thảo, đám sĩ quan Sài Gòn rất phục. Chúng có ngờ đâu, những kiến thức ấy của Chín Thảo có được từ trường võ bị Trần Quốc Tuấn của Việt Minh.

Đại tá Phạm Ngọc Thảo đang trả lời phỏng vấn của các phóng viên. Ảnh: Life. 

Anh em Diệm-Nhu bắt đầu chú ý và đề cao “tầm” của Chín Thảo. Năm 1957, họ thăng ông lên Thiếu tá và gọi về làm việc ở Phòng Nghiên cứu chính trị của Phủ Tổng thống. Từ đây, Phạm Ngọc Thảo bắt đầu thực hiện nhiệm vụ có một không hai mà đồng chí Lê Duẩn giao cho. Đó là tác động đến sự “thay đổi chế độ” trong chính quyền Sài Gòn.

“Chuyên gia” đảo chính

Phạm Ngọc Thảo đã lập những thành tích xuất sắc trong nhiệm vụ được giao. Mở đầu là cuộc đảo chính lật Diệm 1963 với vai trò tác nhân rất lớn của ông. Trong tình hình rối ren cuối năm 1963, Ngô Đình Nhu biết sớm muộn sẽ có đảo chính nên đã lập kế hoạch phòng bị. Nó mang tên Bravo với nội dung là làm một cuộc đảo chính giả để lòi ra các nhân vật muốn đảo chính thật. Khi đó, Nhu sẽ thu gọn một mẻ lưới.

Chính Phạm Ngọc Thảo đã phá hỏng kế của Nhu. Trong sách Tại sao Mỹ thua ở Việt Nam, Nguyễn Phú Đức nói tường tận: “Để xui Minh và Đôn nhanh chóng thực hiện đảo chính, Thảo đến tìm hai người để cho biết kế hoạch Bravo của Nhu và cho họ biết có Đỗ Mậu và Trần Kim Tuyến nguyên đại tá tình báo của Nhu bị thất sủng. Thảo sẽ tổ chức trước một cuộc đảo chính phòng ngừa ngày 24/10/1963 để làm thất bại kế hoạch của Nhu. Đôn và Minh ra sức khuyên can Thảo không nên quá nôn nóng vì những người tham gia đảo chính thật chưa sẵn sàng. Thực tế Thảo đánh lừa Minh và Đôn vì dưới quyền Thảo không đủ lực lượng để tiến hành đảo chính lật Diệm. Mục đích của Thảo là xúi giục Minh và Đôn nhanh chóng hành động để làm rối loạn bộ máy chỉ huy quân đội Sài Gòn dẫn đến tình hình không thể gỡ được của Mỹ và Diệm”.

Sau khi Diệm đổ, Nguyễn Khánh lại đảo chính lật đổ Dương Văn Minh. Phạm Ngọc Thảo lại liên lạc với Trần Thiện Khiêm để đảo chính lật Khánh. Kế hoạch bắt cóc Khánh trong một bữa tiệc gia đình không thành, Khiêm phải bay sang Mỹ làm đại sứ và Thảo đi theo làm tùy viên báo chí và quân sự.

Nhằm cắt vây cánh của Khiêm, Khánh ra lệnh cho Bộ Ngoại giao triệu Phạm Ngọc Thảo về nước, bắt trình diện trước ngày 18/2/1965. Vào lúc này, Phạm Ngọc Thảo vừa biết tin Mỹ sắp sửa đổ quân vào miền Nam và ném bom miền Bắc nên ông muốn làm ngay một cuộc đảo chính để ngăn chặn.

Đại tá Phạm Ngọc Thảo (người ngồi) trong cuộc đảo chính 19/2/1965. Ảnh: Life. 

Ngày 19/2/1965, Thảo cùng thiếu tướng Lâm Văn Phát đem quân và xe tăng vào chiếm trại Lê Văn Duyệt, đài phát thanh, sân bay Tân Sơn Nhất… nhưng không bắt được Nguyễn Khánh. Các tướng lĩnh Sài Gòn nhóm họp ở Biên Hòa cử Nguyễn Chánh Thi làm chỉ huy chống đảo chính và ra lệnh cho Lâm Văn Phát, Phạm Ngọc Thảo cùng 13 sĩ quan khác phải ra trình diện trong vòng 24 giờ. Một ngày sau Nguyễn Khánh bị giải nhiệm và cử đi làm đại sứ lưu động (một hình thức trục xuất) nhưng quyền hành đã rơi vào tay nhóm Thiệu - Kỳ. Phạm Ngọc Thảo phải bỏ trốn trong sự truy lùng ráo riết của Thiệu - Kỳ.

Trước tình thế nguy hiểm, phía ta có ý định đưa Phạm Ngọc Thảo ra chiến khu để lánh nhưng ông vẫn tha thiết xin ở lại vì cơ hội đảo chính vẫn còn. Ông cho ra tờ báo Việt Tiến tuyên truyền yêu nước chống Mỹ và VNCH. Tờ báo được các linh mục giúp đỡ in ấn và phát hành.

Không may, ngày 16/7/1965, ông bị lộ tung tích và bị bắt ở khu vực Biên Hòa. Ông bị bắn vào cằm nhưng không chết. Sau đó đám an ninh quân đội quay lại bắt khi ông đang được cứu chữa trong một nhà thờ rồi đưa về Sài Gòn. Tại phòng tra tấn của Cục An ninh quân đội Sài Gòn ông bị tra tấn đến chết vào đêm 17/7/1965.

Những hoạt động của Phạm Ngọc Thảo đã tạo ra sự rối loạn trong bộ máy của chính quyền và quân đội Sài Gòn. Điều đó giúp cho phong trào cách mạng có thời cơ hồi phục sau quãng thời gian dài bị khủng bố trắng dưới thời Diệm. 

Mặc dù vậy, do sự hoạt động quá nhập vai của ông, cho đến ngày hôm nay vẫn rất nhiều cựu tướng lĩnh Sài Gòn không tin rằng ông là tình báo của Cách mạng. Sự nghiệp của đại tá Phạm Ngọc Thảo để lại một huyền thoại trong ngành tình báo không chỉ ở Việt Nam và cả trên thế giới. Ông đã được phong anh hùng LLVT, được truy tặng danh hiệu liệt sĩ với quân hàm đại tá.

Thứ Ba, 3 tháng 12, 2013

Hai tù nhân đáng sợ nhất trong đời Diệm-Nhu

Những năm 1959, có hai chiến sĩ tình báo của ta bị bắt và họ đều làm nên những sự kiện "vô tiền khoáng hậu" trong nhà tù của Diệm.

Ngô Đình Nhu thua một người tù


Năm 1958, mật vụ của chính quyền Sài Gòn bắt được một cán bộ cấp cao của quân giải phóng. Người này có tên là Hai. Lần đầu hỏi cung, ông Hai nói thẳng với viên hỏi cung: Tôi bị bắt vào đây các ông có quyền hành hạ nhưng tôi sẽ không khai báo gì cả. Sau nhiều lần hỏi cung chẳng được gì, bọn mật vụ tức giận nên có lần chúng đánh ông luôn 3 ngày liền. Vào ngày thứ 2, chuẩn bị đánh thì ông ta xin phép cởi quần áo ra vì chỉ có một bộ sợ dính máu. Cởi xong đâu đấy đứng yên chịu đòn, không la hét hay rên rỉ. Hành động ấy khiến đám tra tấn cũng ngán nên đến ngày thứ 4 thì thôi.
Nhà đương cục lại đưa người tù này ra Huế cho Đoàn công tác đặc biệt của cậu Ngô Đình Cẩn tìm cách khai thác vì thời gian trước cách làm của Cẩn đã “thu phục” được một số phần tử kháng chiến cũ. Hàng ngày, Cẩn cho những người cách mạng đã chiêu hồi đến nói chuyện với người tù đó. Lợi dụng phong trào cách mạng miền Nam đang gặp khó khăn và khoét vào những sai lầm trong cải cách ruộng đất ở miền Bắc để thuyết phục người tù này bỏ Cộng sản về với Quốc gia. Nhưng lần nào cũng vậy, người tù ấy chỉ nhẹ nhàng phân tích đập lại các lập luận thuyết phục mà không hề mắng mỏ những kẻ chiêu hồi là phản bội. Xem ra cách làm của Cẩn cũng không có tác dụng với người này.

Cố vấn Ngô Đình Nhu - nhà lý luận của gia đình họ Ngô. Ảnh: Internet. 

Hết cách, Cẩn phải gọi cho ông anh Ngô Đình Nhu vốn có học thức và giỏi biện bác nhất nhà ra Huế để tranh luận chính trị với người tù kia, hy vọng có thể thành công. Cuộc gặp được tổ chức ở một tư dinh của Cẩn ở cửa Thuận An. Tham dự có Nhu, Cẩn cùng bộ hạ cùng ông Hai và một số tù chính trị.
Cuộc tranh luận diễn ra ở nhiều chủ đề. Từ sự chia cắt hai miền cho đến chế độ tốt xấu ra sao. Ông Nhu lắt léo đổ cho việc chia cắt hai miền là thỏa thuận của Nga và Mỹ hòng đưa cuộc chiến hiện tại sang cuộc đối đầu ý thức hệ. Với lập luận này, Nhu đã bịp được nhiều trí thức miền Nam. Nhưng rất tỉnh táo, ông Hai khẳng định nước Việt Nam là một dải từ Nam Quan đến mũi Cà Mau không gì chia cắt được.
Xoáy vào sai lầm cải cách ruộng đất, ông Nhu muốn chứng minh chế độ chính trị miền Bắc không tốt như tuyên truyền. Mặc dù đã bị giam vài năm, không được cập nhật thông tin xong ông Hai vẫn vững vàng phân tích: “Mặc dù gia đình tôi là địa chủ nhưng tôi không chấp nhận nhà tôi có hàng chục mẫu trong khi nông dân không có ruộng đất. Tôi tán thành cải cách ruộng đất nhưng không muốn cảnh đấu tố sai. Người ta làm ruộng là phải có ruộng đất. Nhưng tôi phản đối cách làm”.
Không chịu bị động, ông Hai cũng tấn công lại Ngô Đình Nhu rằng họ Ngô chẳng có chút độc lập nào. Đến một lúc nào đó, nếu không nghe Mỹ thì sẽ bị nó loại trừ thôi. Ông lập luận: “ Ông Diệm vay tiền làm đập Đa Nhim, nhưng Mỹ không cho. Các ông vay – họ không cho vay, các ông phải xin họ mới cho. Họ không tin các ông. Các ông mua hàng dân dụng ở đâu cũng phải do cơ quan viện trợ Mỹ chỉ định. Ít nhất 10% hàng chở về cũng phải bằng tàu Mỹ. Các ông phụ thuộc Mỹ. Viện trợ Mỹ là cái thòng lọng. Khi nào các ông chống họ, không nghe họ thì họ thắt lại, các ông hết thở thôi”.

Chỉ huy tình báo Trần Quốc Hương (người cầm gậy). Ảnh: SGTT. 

Khi biên bản cuộc tranh luận này được gửi lên ông Diệm, ông ta nói: Ông Hai đó là Cộng sản ngoan cố nhưng nói nhiều điều phải suy nghĩ”. Ông Hai đây chính là Trần Quốc Hương, người chỉ huy trực tiếp của những điệp viên nổi tiếng như Phạm Xuân Ẩn, Vũ Ngọc Nhạ. Trong thân phận một người tù, ông chẳng những không khiếp nhược mà còn khiến kẻ địch phải nghĩ ngợi trước những lập luận của mình. Thật là một sự kiện vô tiền khoáng hậu.

"Nữ tướng" trại Vân Đồn

Năm 1959, do bị chỉ điểm, một chỉ huy tình báo lợi hại khác của ta là Đinh Thị Vân cũng bị bắt. Sau khi mọi ngón tra tấn không thu được kết quả gì, đám an ninh quân đội của Đỗ Mậu đưa bà sang trại Vân Đồn. Đây là một trại theo mô hình trại giam của Đoàn công tác đặc biệt miền Trung. Ở đây, chúng không đánh đập mà dùng những thủ đoạn mị dân để làm thay đổi tư tưởng của người tù chính trị.
Trong hồi ký Tôi đi làm tình báo, bà Vân kể: “Ai vào đây cũng không bị đánh đập, trái lại được ăn uống rất ngon lành. Trí thức được chăm sóc đặc biệt. Cán bộ càng cao, càng được chúng chiều chuộng. Nếu là tỉnh ủy viên thì trưởng ban trực tiếp mắc màn cho, pha cà phê bưng xuống, sáng sớm đã mò đến hỏi thăm giấc ngủ. Những công việc như thế chúng làm rất kiên trì, không thay đổi, không nản lòng… Nó làm cho bạn thù lẫn lộn, trái phải lung tung. Đã có người ngộ nhận chính sách của nó là thật tâm”.

Nhà tình báo Đinh Thị Vân. Ảnh: Batinh.com. 

Theo cách của Đoàn công tác đặc biệt miền Trung, trại Vân Đồn cũng đưa những người tù chuyển hướng đến thuyết phục Đinh Thị Vân. Mỗi lần như thế, bà lại giơ ra những vết thương còn chưa lành và trả lời rằng đánh như thế này mà bảo khoan hồng à. Có kẻ nào thuyết giảng về sự khoan hồng với tù chính trị thì bà một mực nói rằng bà chỉ là người đi buôn không cần biết chính sách khoan hồng gì cả.
Trong trại cấm nói chuyện nhưng bà hay đọc thơ. Lúc bà đọc thơ Đề Thám trả lời cha nuôi khuyên ông quy hàng Pháp, khi thì bà đọc đoạn Từ Hải chết đứng vì mắc lừa Hồ Tôn Hiến trong truyện Kiều. Dụng ý của bà là thức tỉnh những anh em khác đừng mắc mưu địch. Bọn chúng tức điên nhưng không làm gì được vì bà bảo bà đọc một mình đấy chứ.
Mỗi sáng thứ 2 bọn địch chào cờ, chúng bắt tù nhân ở trong phòng giam cũng phải đứng hết dậy chào cờ. Riêng bà cứ nằm một chỗ. Có hỏi thì bà bảo là tù thì không còn quyền công dân nên không chào với lại bà không chào cờ của cái chế độ bắt giữ và đánh đập bà oan ức. Không làm gì được chúng cũng đành ngơ đi. Những hành động hiên ngang của bà đã thức tỉnh và làm ánh sáng cho nhiều anh em tù đang chơi vơi trong trại này. Nhờ tấm gương của bà mà các anh em khác đã không bị thủ đoạn của bọn mật vụ lừa bịp.
Cả hai nhà tình báo kể trên đều phải đến khi Diệm bị lật đổ, chính quyền Sài Gòn rối ren mới được thả ra. Điều đặc biệt là trong 5, 6 năm giam giữ, họ đã tấn công tư tưởng đối với địch và tay sai của chúng làm thất bại thủ đoạn mị dân của chúng. Qua họ mà ta hiểu vì sao cách mạng miền Nam nhiều lúc gặp những hoàn cảnh rất gian truân ngặt nghèo nhưng cuối cùng vẫn giành chiến thắng vang dội.

Thứ Hai, 2 tháng 12, 2013

Chuyện giờ mới kể về giai nhân nức tiếng Hà Thành

Nhan sắc của mỹ nữ mang tên loài hoa Bạch Thược từng làm biết bao công tử say đắm.

Nhan sắc của chị em Bạch Thược làm nức lòng khắp các tỉnh gần xa. Trong năm chị em gái, thì nhà Bạch Thược có 3 người đẹp, được kế thừa nhan sắc của mẹ (xưa là giai nhân của đất Nam Định).

Không vương miện, không những lời xưng tụng, không cuộc sống chốn phù hoa, họ đã sống lặng lẽ giữa những góc phố nhỏ của Hà Nội xưa. Bây giờ, họ đều đã bước sang bờ bên kia của cuộc đời, và có thể ta không còn tìm thấy nhan sắc trên gương mặt của họ. Nhưng ngày xưa, họ từng là giai nhân của đất Hà thành…

Một trong số đó người đời nhắc, nhớ, ấn tượng… mãi với một nhan sắc của mỹ nữ mang tên loài hoa Bạch Thược từng làm cho biết bao công tử Hà thành say đắm.

Bạch Thược xưa và Bạch Thược hiện nay.

Mỹ nữ mang tên một loài hoa trong truyền thuyết

Có một truyền thuyết kể về một loài hoa rất lạ, hoa Bạch Thược. Chuyện kể rằng, ngày xưa danh y Hoa Đà được tặng một loại cây trồng trong nhà mà không biết đó là cây thuốc quý. Mùa xuân đến, cây ra những bông hoa rất to, trắng muốt và mùi hương quyến rũ như hoa hồng. Hoa Đà nghĩ rằng đây là một loài hoa đẹp nhưng không quý nên ông không để ý đến nó nữa.

Một đêm thu, Hoa Đà đang ngồi đọc sách, bỗng nghe bên cửa sổ tiếng một người con gái khóc thút thít. Sau nhiều lần tìm hiểu, ông mới biết đó là tiếng khóc oan ức của một loài hoa quý bị bỏ quên, hoa Bạch Thược…

Và ở Hà thành ngày xưa, có một người con gái sắc nước hương trời được ví von là Bạch Thược. Cô sinh ra trong một gia đình tiểu tư sản ở Hà Nội. Bố bà là cụ Phạm Hữu Ninh, từng là tham tán phủ toàn quyền nhưng đi theo tiếng gọi của Cách mạng, cụ đã bỏ việc về mở trường tư. Trường tư thục Thăng Long ngày đó nổi tiếng bởi đã quy tụ được nhiều nhà giáo lớn như Hoàng Minh Giám, Bùi Kỷ, Võ Nguyên Giáp…

Là con thứ tư trong một gia đình toàn con gái nhưng ngay từ nhỏ, bà đã được cả nhà cưng chiều hết mực. Đặc biệt, bà không sống theo khuôn phép cũ. Bà thích mặc quần áo con trai, chơi đánh bi, đánh đáo và không hề biết đến thêu thùa, nấu ăn như nhiều thiếu nữ Hà Nội xưa.

Lớn lên được vào học trường Tây và tham gia vào phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên Hà Nội, bà ngày càng chứng tỏ được sự thông tuệ của mình. Vẻ đẹp thuần khiết, mang nhiều cá tính đặc trưng của một cô gái Hà Nội đã khiến bao chàng trai ngày đó mê mẩn.

Bạch Thược hầu như không bao giờ tiếp xúc với con trai, thậm chí nhiều khi còn chạy trốn những cuộc chuyện trò làm quen. Tâm hồn bà tuổi 20 trong veo, không vướng bận một chút về tình yêu. Nhan sắc của chị em Bạch Thược làm nức lòng khắp các tỉnh gần xa. Trong năm chị em gái, thì nhà Bạch Thược có 3 người đẹp, được kế thừa nhan sắc của mẹ (xưa là giai nhân của đất Nam Định).

Bà Phạm Thị Ngọc Trâm, chị gái đầu của bà cũng là một nhan sắc nổi tiếng của phố cổ đã kết duyên cùng cháu đích tôn của quan thượng thư tỉnh Hà Đông. Người chị thứ hai của Bạch Thược, bà Kim Thoa, kết hôn với một vị bác sĩ khá nổi tiếng ngày đó và thoát ly theo gia đình chồng, để lại một tình yêu dang dở và sau này trở thành mối lương duyên của cuộc đời Bạch Thược.

Ông Vũ Sơn, chồng của Bạch Thược trước học cùng trường với chị gái thứ hai của bà. Ông rất mê bà Kim Thoa. Đến khi bà Thoa quyết định lấy chồng, một bác sĩ từng công tác ở Phnom Penh thì Vũ Sơn buồn chán và thất vọng vô cùng.

Bố của Bạch Thược lại rất quý Vũ Sơn, cụ đã động viên chàng trai này tham gia kháng chiến và hứa hẹn sẽ gả cô con gái thứ tư cho ông. Sau khi Vũ Sơn tham gia kháng chiến, lần đầu tiên trái tim của Bạch Thược rung lên những nhịp đập tha thiết với một chàng bác sĩ quân y. Nhưng còn lời hẹn ước trước đây của bố, Bạch Thược cũng không thể vô tình. Bà đứng trong sự giằng co giữa tình yêu và một lời ước hẹn mang nặng nghĩa tình của bố.

Sau hàng tháng suy nghĩ, bà quyết định chia tay mối tình này. Hiểu được tâm trạng của người yêu nên người bác sĩ quân y ngày đó đã cao thượng hy sinh tình yêu của mình, chấp nhận ra đi. Ông đã viết cho bà một bức thư dài rất cảm động. Bạch Thược giữ kín lá thư đó trong nhiều năm trời như một bảo vật thiêng liêng về một mối tình đầu tiên trong cuộc đời, cho đến tận ngày làm đám cưới, bà đã tự tay đốt nó thành tro…

Năm chị em nhà Bạch Thược.

Sau này, khi gặp lại người cũ trên đất Pháp, bà cũng thấy chạnh lòng vì cuộc sống riêng của người đó không được như ý muốn. Bà nghĩ ông không được hạnh phúc cũng là một phần lỗi do bà. Nhưng âu cũng là số phận, Bạch Thược không ân hận về những quyết định đã qua, bà đã có cuộc sống có thể gọi là bình yên bên người chồng của mình.

Bà theo học ngành dược, từng sang Bungari tu nghiệp, và sau này bôn ba theo chồng sang nhiều nước (chồng bà công tác trong ngành ngoại giao). Phải rất lâu sau này bà mới gặp lại người đàn ông đó, trong một chuyến công tác ở Pháp. Bà hiểu và có những lúc chạnh lòng, bởi cuộc đời ông đã không được toại nguyện như bà từng mong muốn.

Hồi ức khó quên

Bà Thược năm nay đã ngoài 75 tuổi, nhưng nét đẹp sắc sảo mặn mà, đài các của một người con gái Hà thành xưa vẫn còn vương lại trên khuôn mặt bà. Bấy lâu nay bà sống một mình trong căn nhà tập thể rộng thênh ở khu Nam Thành Công, các con đều đã trưởng thành và rời xa khỏi vòng tay của mẹ. Có lẽ đây là khoảng thời gian bà được bình tâm nhất, bởi đã hết những lo toan bề bộn của một kiếp người.

Bà Bạch Thược ngồi trầm tư rất lâu khi tôi hỏi về ký ức những ngày xưa, khi nhan sắc của bà từng nức danh phố cổ Hà Nội. Nhưng bà kể rằng, bà không nhớ nhiều đến những thị phi, mà nhớ đến thời oanh liệt vì nhà Bạch Thược trở thành một căn cứ Cách mạng, nơi in ấn truyền đơn và tổ chức các phong trào biểu tình chống chiến tranh.

Cô bé mảnh khảnh, có cái vẻ bề ngoài tưởng như yếu đuối đó từng bị bắt vào Sở Mật thám 6 tháng, nếu không có sự can thiệp của anh rể thì có lẽ Bạch Thược đã không thoát khỏi những ngón đòn tra tấn dã man của giặc.

Trong Sở Mật thám đối với Bạch Thược cũng là một khoảng thời gian đáng nhớ, bởi bà ý thức được cao hơn, ý nghĩa của sự sống và khát vọng đấu tranh cho giải phóng dân tộc. Và sắc đẹp của bà trong những ngày lao tù cơ cực ấy đã khiến bọn lính Pháp ngạc nhiên, và ít nhiều thay đổi cái nhìn của chúng về Việt Minh. Bởi trong mắt chúng, Việt Minh không thể có vẻ đẹp đài các, sang trọng thế này. Còn với những tù nhân, vẻ đẹp của Bạch Thược như một vệt sáng cổ vũ tinh thần đấu tranh bền bỉ của họ.

Vẫn biết rằng, trong tiềm thức của nhiều người thường nghĩ rằng những người đàn bà đẹp ngày xưa thường được sinh ra trong những gia đình khuê các, được giáo dục theo nề nếp gia phong hẳn sẽ có một cuộc sống bình yên và hạnh phúc, giống như cái đẹp tròn đầy viên mãn của trăng 16, không một chút hao khuyết, đầy vơi.

Bà Bạch Thược kể lại những năm tháng đó một cách hào hứng, thời đó những người con gái như bà không quá ý thức về nhan sắc của mình mà chỉ mải mê học và tham gia vào các phong trào đấu tranh. Sôi nổi là vậy, nhưng ngoài đời Bạch Thược hầu như không bao giờ tiếp xúc với con trai, thậm chí nhiều khi còn chạy trốn những cuộc chuyện trò. Tâm hồn bà tuổi 20 trong veo, không vướng bận một chút về tình yêu.

Chủ Nhật, 1 tháng 12, 2013

Bi ẩn thi hài thánh nữ đẹp như mỹ nhân

Mấy trăm năm qua đi, dung nhan thánh nữ Bernadette vẫn tuyệt vời như khi bà qua đời ở tuổi 35, dù không hề được ướp xác.

Trên thế giới có rất nhiều hiện tượng nhục thân bất hoại, thi hài nguyên vẹn sau hàng trăm, hàng nghìn năm, đa số có thể lý giải bằng khoa học. Thế nhưng với hiện tượng nhục thân bất hoại của thánh nữ Bernadette và một số vị thánh, nhà tu hành khác thì các nhà khoa học vẫn phải đau đầu bởi sự kỳ lạ dường như mang tính chất thần linh.

Thánh nữ Bernadette là ai?

Người được nhà thờ Thiên chúa giáo La Mã 2 lần phong thánh này là con gái đầu lòng của một gia đình thợ may nghèo ở Louders, miền nam nước Pháp, từ nhỏ đã ốm yếu vì bệnh hen. Vào năm 1858, khi 14 tuổi, cô bé nhìn thấy Đức Mẹ hiện ra với mình trong một cái hang gần sông Gave, khi cô nhặt củi ở đó, nên về kể với mẹ.

Bernadette thời thiếu nữ. Bà là vị thánh đầu tiên của Thiên chúa giáo có hình chụp lúc còn sống.

Tin đồn lan ra, và dĩ nhiên rất nhiều người không tin. Trong vòng 5 tháng sau đó, cô bé còn được thị kiến Đức Mẹ thêm 17 lần, khiến đám đông đổ về hang ngày một đông. Điều đó khiến cô thiếu nữ gặp nguy hiểm bởi sự cảnh cáo, đe dọa của nhà chức trách. Tuy nhiên, Bernadette vẫn trung thành với những gì mình nhìn thấy thay vì tuyên bố mình nói dối như nhà chức trách yêu cầu.

Người dân càng tin vào Bernadette hơn khi có một dòng suối chảy ra từ hang do cô đã dùng tay đào theo chỉ dẫn của Đức Mẹ, và nước suối ấy được cho là chữa khỏi bệnh cho nhiều người. Trong một lần hiện ra với Bernadette, Đức Mẹ nói muốn xây một nhà thờ tại đây, nhưng nhà chức trách tìm cách ngăn cản, cũng như đóng dòng suối lại. Nhưng tiếng tăm về Bernadette và Đức Mẹ trong hang đã đến tai hoàng hậu nước Pháp, và bà đã can thiệp để nhà thờ được xây dựng.

Bernadette khi đã là nữ tu. 

Năm 22 tuổi, Bernadette được vào tu viện đúng như khao khát của cô, dành hết tâm sức để thờ Thiên chúa và làm những việc thiện nguyện. Nữ tu sĩ qua đời ở tuổi 35 (năm 1879) sau một thời gian dài bệnh tật. Vào năm 1913, Bernadette được Giáo hoàng Pius X phong thánh, mộ của bà lần đầu tiên được mở ra và mọi người ngạc nhiên bởi thi hài vẫn y nguyên như lúc còn sống. Do hoàn cảnh chiến tranh (chiến tranh thế giới thứ nhất 1914-1918), các nghi thức bị gián đoạn nên đến năm 1919, mộ của bà lại được mở ra lần nữa để hoàn tất các nghi lễ.

Lúc này, Bernadette đã qua đời được 30 năm. Bác sĩ phẫu thuật Tourdan, người chứng kiến sự việc, kể lại: “Quan tài được mở ra dưới sự chứng kiến của nhiều người, trong đó có tôi. Thi thể thánh nữ trong trang phục yêu thích của bà không hề có mùi xú u. Khuôn mặt, bàn tay và cẳng tay lộ ra bên ngoài. Đầu bà nghiêng sang một bên, miệng hé mở để lộ hàm răng trắng. Hai tay đặt trên ngực, lớp da vẫn hoàn hảo”.

Theo mô tả của những người khác, đầu gối bên trái của thánh nữ nhỏ hơn bên phải do ảnh hưởng của chứng bệnh lao xương mà bà mắc phải. Trang phục của bà hơi ẩm ướt, cỗ tràng hạt bà cầm cũng như tượng thánh bằng đồng trên ngực đã rỉ sét, nhưng lạ kỳ là da thịt lại vẹn nguyên, các khớp xương vẫn mềm mại và da vẫn đàn hồi, tươi tắn. Thánh nữ Bernadette được thay y phục mới và mai táng trở lại.

Thi hài thánh nữ Bernadette được đặt trong quan tài kính. 

Năm 1925, Đức Giáo hoàng Pius XI phong thánh lần nữa cho Bernadette, và mộ bà lại được mở ra lần thứ ba. Người phụ nữ qua đời ở tuổi 35 vẫn mang dung nhan thánh thiện, đẹp đẽ như đang nằm ngủ, duy có da mặt hơi sẫm hơn một chút do bị lau rửa lần trước. Sau khi bọc sáp gương mặt và đôi tay, di hài được đưa vào quan tài bằng pha lê đặt ở nhà nguyện tại Lourder cho đến tận ngày nay cho mọi người kính ngưỡng.

Lourder - quê hương Bernadette đã trở thành một trong những điểm hành hương lớn nhất của các tín đồ Thiên chúa giáo, và dòng suối nhỏ được bà đào theo chỉ dẫn của Đức Mẹ vẫn cung cấp nước cho khách thập phương đến tận ngày nay.

Bí ẩn của thi thể không rữa nát

Đã có vô số thi thể cổ xưa được người đương đại phát hiện trong tình trạng nguyên vẹn: những bậc đế vương, những người giàu có, những thiền sư đắc đạo, những người sống ở vùng băng giá. Sự hoàn hảo của những thi thể này được khoa học lý giải nguyên nhân rất dễ dàng: Những tảng băng tạo thành cái tủ lạnh khổng lồ khiến những xác chết nằm trong đó được bảo quản tươi nguyên sau nhiều thế kỷ.

Những thi hài được ướp xác bằng cách rút hết nội tạng, được quấn và nhồi bằng nhiều loại dầu, thảo dược có tác dụng chống phân hủy. Còn các vị cao tăng thường “tự ướp xác” mình bằng cách nhịn ăn nhiều ngày, chỉ uống loại nước thuốc đặc biệt để ngừng trao đổi chất, làm sạch cơ thể, khiến người gầy rộc chỉ còn da bọc xương trước khi họ viên tịch trong tư thế thiền định.

Đặc điểm chung của những xác ướp đó là tuy không bị rữa nát, chúng cứng đơ, khô quắt, bị rút hết nước, và màu da xám xịt hoặc đen sì. Thực ra cũng có một ngoại lệ, đó là xác ướp của Tân Truy phu nhân, vợ một vị quan triều Hán ở Trung Quốc cách đây 2.000 năm, được phát hiện năm 1972. Thi thể người phụ nữ qua đời lúc 50 tuổi này vẫn đầy đặn, mặt tuy đã phân hủy nhưng còn khá rõ các nét, da còn khá mềm và ẩm, có khớp vẫn cử động được, đáng ngạc nhiên là nội tạng vẫn đầy đủ, thậm chí trong ruột và dạ dày vẫn còn hàng trăm hạt dưa.

Thi hài 2.000 năm của Tân Truy phu nhân.

Dù kỳ lạ nhưng sự “bất hoại” của Tân Truy phu nhân vẫn được giới nghiên cứu lý giải rõ ràng: thi thể bà đã được bảo quản cực kỳ khoa học với 20 lớp vải quấn quanh, ngâm trong dung dịch chống phân hủy bao gồm cả chu sa, thủy ngân và thạc tín, đặt trong 4 lớp quan tài. Có đến 5 tấn than được đổ quanh và thi hài được chôn sâu 15 mét dưới lòng đất.

Tóm lại, gần như tất cả những thi thể tồn tại qua thời gian đều là kết quả của sự bảo quản kỳ công, hoặc thi hài tình cờ được ở trong môi trường đặc biệt để vi khuẩn và sự oxy hóa không “tác quái” được. Nhưng điều đó không đúng với trường hợp thi thể thánh nữ Bernadette. Khi qua đời, bà chỉ ở địa vị một nữ tu sĩ bình thường, thậm chí bị mẹ bề trên ghét bỏ, nên thi thể được mai táng hoàn toàn theo cách bình thường, không có một tác động nào nhằm mục đích bảo quản thi hài.

Dung nhan của thánh nữ Bernadette hiện nay vẫn tươi đẹp như đang ngủ. 

Môi trường nơi đặt thi thể bà cũng hoàn toàn bình thường, nghĩa là những thi thể khác đặt ở đó vẫn rữa nát nhanh chóng theo quy luật tự nhiên. Các nhà khoa học không lý giải được tại sao, còn những người tin vào tâm linh thì cho rằng, chính hồng ân của Thiên chúa và Đức Mẹ đã tạo ra phép lạ cho người con gái thánh thiện của các ngài.

Nữ á thánh Anna Maria Taigi.

Không chỉ Bernadette, một số vị thánh khác của Thiên chúa giáo cũng có thi thể bất hoại, chẳng hạn nữ á thánh Anna Maria Taigi, người Italy, qua đời năm 1837 ở tuổi 68. Bà không phải là một tu sĩ, mà là bà mẹ 7 con nhận được ơn tiên tri của Thiên chúa, thấy được quá khứ và tương lai. Bà sống cuộc đời đạo đức, cống hiến và được Giáo hoàng Benedikt XV phong á thánh vào năm 1920. Mặc dù qua đời khi tuổi đã cao và đến nay đã hơn 175 năm trôi qua, gương mặt vị á thánh này vẫn tròn đầy, căng mịn, rất tươi đẹp.

Thánh Johannes Bosco.

Thánh Johannes Bosco (1786-1859) cũng được hậu thế chiêm ngưỡng trong quan tài kính với thần thái không khác lúc còn sống. Ông là một linh mục Pháp, người sáng lập nhà dòng Salesianer, được Giáo hoàng Pius XI phong thánh và tuyên xưng là Thánh quan thầy của các linh mục. Những vị thánh khác như Francis Xavier (1506-1552), di hài đang được lưu giữ tại Ấn Độ, Jean Marie Baptiste Vieanney (1786-1859)… cũng nổi tiếng là nhục thân bất hoại dù không hề được ướp xác.

Thứ Ba, 26 tháng 11, 2013

Những điều chưa biết về “hội chứng Stockholm”

Người bị bắt cóc sau một thời gian chuyển từ sợ hãi, căm ghét thành thông cảm và quý mến chính đã kẻ bắt cóc mình - đó chính là "hội chứng Stockholm".

Khi Jan - Erik Olsson, 32 tuổi, tay lăm lăm khẩu súng xông vào nhà băng Kreditbanken ở thủ đô Stockholm (Thụy Điển) và bắt giữ 4 người làm con tin ngày 23/8/1973, ông ta không thể ngờ rằng hành động này đã tạo ra một hội chứng tâm lý đặc biệt đến 40 năm sau vẫn được nhắc đến.

“Hội chứng Stockholm” bắt nguồn từ vụ án trên là thuật ngữ mô tả trạng thái tâm lý kỳ lạ, trong đó người bị bắt cóc sau một thời gian đã chuyển từ sợ hãi và căm ghét thành thông cảm và quý mến chính đã kẻ bắt cóc mình. Hãng tin AFP đã trích dẫn những hồi tưởng của Olsson, nay là một ông lão 72 tuổi, kể rằng: “Đã có lúc các con tin còn che chắn để cảnh sát không thể bắn tôi”.

Cảnh sát và các tay súng bắn tỉa tại địa điểm đối diện nhà băng Kreditbanken. Ảnh: AFP/TTXVN. 

Vụ bắt cóc con tin trong 5 ngày tại nhà băng Kreditbanken đã trở thành hiện tượng và lần đầu tiên một vụ án như vậy được truyền hình trực tiếp tại Thụy Điển. Ban đầu, Olsson hoàn toàn khiến các con tin khiếp sợ và nhận thấy tính mạng của họ đang bị đe dọa. Olsson kể lại: “Bạn có thể thấy rõ nỗi sợ hãi trong mắt họ. Tôi chỉ muốn dọa họ thôi, chưa bao giờ tôi muốn có bạo lực”. Bốn con tin và cũng là nhân viên nhà băng gồm Birgitta Lundblad, Elisabeth Oldgren, Kristin Ehnmark và Sven Safstrom.

Bức ảnh các con tin được chụp từ camera bí mật của cảnh sát. Ảnh: AFP/TTXVN. 

Vụ án còn trở nên rắc rối hơn khi cảnh sát chấp thuận yêu sách của Olsson là đưa một trong những tên tội phạm khét tiếng của Thụy Điển thời điểm đó, tên cướp nhà băng Clark Olofsson, từ trong tù tới nhà băng Kreditbanken.

Sau một vài ngày bị giam giữ, nỗi sợ của các con tin đã biến chuyển thành một cảm xúc phức tạp. Con tin Kristin Enmark chia sẻ: “Tôi không còn quá sợ Clark và Olsson, mà là sợ chính cảnh sát”. Sven Safstrom, một con tin khác, thậm chí còn cảm thấy biết ơn khi Olsson “thổ lộ” hắn dự định bắn anh để cảnh sát biết hắn nghiêm túc thế nào nhưng đảm bảo sẽ chỉ làm Enmark bị thương. Ehnmark đã có cuộc gọi từ nhà băng tới Thủ tướng Thụy Điển lúc đó là Olof Palme để cầu xin được cho phép rời nhà băng cùng kẻ bắt cóc. Ehnmark sau này tâm sự: “Tôi hoàn toàn tin tưởng Clark và Olsson. Tôi không hề tuyệt vọng. Họ chưa làm gì ảnh hưởng tới chúng tôi, ngược lại, đôi khi họ rất tốt. Cái tôi sợ là cảnh sát sẽ bất ngờ tấn công và khiến chúng tôi thiệt mạng”.

Sau 5 ngày cố thủ, Olsson và Olofsson đã đầu hàng và tất cả các con tin đã được giải cứu nhưng đó chưa phải là hồi kết của câu chuyện. Thuật ngữ “hội chứng Stockholm”, được nhà tội phạm học - tâm lý học người Thụy Điển Nils Bejerot đưa ra, còn được biết đến từ nhiều hồ sơ các vụ bắt cóc sau này.

Điển hình như vụ án năm 1974 (1 năm sau vụ bắt cóc con tin ở Stockholm), Patty Hearst, cháu gái và người thừa kế của nhà xuất bản báo chí lừng danh người Mỹ William Randolph Hearst, đã bị một nhóm kẻ lạ mặt bắt cóc tại California. Dần dà Patty đã nảy sinh sự đồng cảm với những kẻ bắt cóc và thậm chí còn cùng tham gia các vụ cướp với chúng. Sau này Patty bị bắt và chịu án tù, trong khi luật sư của Patty khẳng định rằng cô gái 19 tuổi này đã bị “tẩy não” và mắc phải “hội chứng Stockholm”.

Sau một số vụ án khác, thuật ngữ “hội chứng Stockholm” đã trở nên khá phổ biến, nhưng nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này vẫn tương đối mơ hồ. Chuyên gia tâm lý học Frank Ochberg đã bỏ công nghiên cứu về hội chứng này và nhận xét: Đầu tiên, nỗi sợ hãi bất ngờ đến với các con tin, họ đinh ninh rằng mình sẽ chết. Sau đó, họ lại trải nghiệm trạng thái giống như một đứa trẻ - không thể tự ăn, nói hoặc đi vệ sinh mà không có sự cho phép. Vì vậy, những hành động nhỏ của kẻ bắt cóc con tin như cho ăn, uống đã dẫn đến sự biết ơn ban đầu. Các con tin dần rơi vào trạng thái tự phủ nhận thực tế rằng chính những kẻ bắt cóc đã đẩy họ vào tình huống như vậy, và trong tâm trí họ lại cho rằng đó là những kẻ “tối cao” có quyền quyết định việc họ được sống hay phải chết”.

Nhà báo Mỹ Daniel Lang năm 1974 đã phỏng vấn tất cả những người có liên quan đến vụ án nhà băng Kreditbanken và các con tin đều cho biết, họ được Olsson đối xử rất tốt, thậm chí có thời điểm họ còn cảm thấy họ nợ những kẻ bắt cóc cả cuộc sống của mình. Con tin Elisabeth Oldgren được Olsson cho phép đi lại với điều kiện có dây quấn chặt quanh cổ nhưng lại có suy nghĩ rằng Olsson đã rất tốt khi cho phép cô được di chuyển quanh sàn nhà băng.

Lang còn có một phát hiện rất thú vị là “hội chứng Stockholm”, không chỉ đề cập tới cảm xúc trái ngược của con tin mà còn cho thấy sự thay đổi trong cảm xúc của những kẻ bắt cóc.

Jan - Erik Olsson (giữa) khi bị bắt. Ảnh: AFP/TTXVN. 

Olsson cho hay, ngay từ khi vụ bắt cóc bắt đầu, ông ta nghĩ rằng mình có thể dễ dàng tiêu diệt các con tin nhưng điều đó đã dần thay đổi. “Họ đã làm mọi thứ như tôi bảo họ, không một ai trong số họ tấn công tôi”. Olsson nghĩ rằng qua những ngày bắt cóc đó, hai bên đã không còn gì để làm ngoài việc tìm hiểu thêm về nhau.

Mặc dù đã trở thành một bài học trong các khóa học thương thuyết giải cứu con tin nhưng thời gian gần đây, “hội chứng Stockholm” hiếm khi xảy ra. McGowan, đứng đầu Đội Thương thuyết Giải cứu con tin ra đời hồi tháng 4/1973 tại Mỹ, cho biết: “Hội chứng Stockholm là một tình huống đặc biệt. Nó diễn ra vào thời điểm những vụ bắt cóc con tin xảy ra nhiều hơn”.

Thứ Hai, 25 tháng 11, 2013

Bí ẩn khó giải về biệt điện Trần Lệ Xuân

Lâu nay, người ta vẫn rỉ tai nhau về đường hầm thoát thân của họ Ngô nối từ biệt điện Trần Lệ Xuân đến sân bay Cam Ly. Thực hư ra sao?

Biệt điện bà cố vấn

Biệt điện này được vợ của cố vấn Ngô Đình Nhu là bà Trần Lệ Xuân cho xây dựng vào năm 1958 với mục đích làm nơi nghỉ ngơi trong những lần lên Đà Lạt an dưỡng. Biệt điện Trần Lệ Xuân ngày nay có địa chỉ tại số 2, đường Yết Kiêu, TP Đà Lạt, Lâm Đồng.

Biệt điện Trần Lệ Xuân là một quần thể gồm ba biệt thự Lam Ngọc, Bạch Ngọc và Hồng Ngọc, được thiết kế, xây dựng mô phỏng theo kiến trúc người Pháp hiện đại bậc nhất thời bấy giờ. Gần như toàn bộ vật liệu xây dựng, đồ vật trang trí, dụng cụ sinh hoạt trong biệt điện đều được nhập khẩu từ nước ngoài.

Biệt thự Lam Ngọc trong khu biệt điện Trần Lệ Xuân. 


Vào thời kỳ Đệ nhất Việt Nam cộng hòa, công trình này là nơi nghỉ dưỡng của Trần Lệ Xuân cùng chồng là cố vấn Ngô Đình Nhu. Sau khi Ngô Đình Nhu và anh trai là Tổng thống Ngô Đình Diệm bị ám sát năm 1963, Trần Lệ Xuân ra nước ngoài sinh sống, công trình này trở thành địa điểm du lịch. Sau đó, khu biệt điện được dùng làm Bảo tàng Sắc tộc Tây Nguyên và ngày nay trở thành Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV, nơi lưu giữ Mộc bản triều Nguyễn.

Những bậc cao niên ở Đà Lạt kể rằng: Thời kỳ gia đình họ Ngô còn trên đỉnh cao quyền lực, đây là khu không ai được bén mảng tới, mọi sự việc diễn ra bên trong là một sự bí ẩn lớn, một tin tức dù rất đỗi đời thường cũng không thể lọt được ra ngoài. Mỗi ngày có hàng chục vệ binh cộng hòa thay nhau túc trực suốt 24/24h. Công tác canh gác cẩn thận, nghiêm ngặt đến nỗi thậm chí một con chim lạ bay tới đậu cũng có thể bị bắn hạ.

Suốt nhiều năm qua, người dân địa phương vẫn rỉ tai nhau thông tin trong khu biệt điện Trần Lệ Xuân đang tồn lại một đường hầm nối liền ra sân bay Cam Ly, các đó khoảng 2km, mục đích là để đề phòng khi có biến cố xảy ra sẽ dễ dàng thoát thân bằng đường hàng không.

Đường hầm chỉ là đồn thổi?

Tuy nhiên, qua tiếp xúc, trao đổi với những người sinh sống gần khu vực này cùng ông Dương Quang Bền, người được Cục Lưu trữ Nhà Nước (nay là Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước) biệt phái vào Đà Lạt công tác từ năm 1985 để chuyển khối Mộc bản triều Nguyễn từ tòa nhà Dòng chúa cứu thế (nay là Viện sinh học Tây Nguyên) đến bảo quản tại biệt điện Trần Lệ Xuân, chúng tôi đều nhận được thông tin là không hề có đường hầm nào nối liền từ biệt điện Trần Lệ Xuân ra sân bay Cam Ly. Dù trước đó, những người này đều cho biết, họ cũng đã được nghe về thông tin trên. Tuy nhiên, đây chỉ là tin đồn mà đến nay vẫn chưa có căn cứ xác thực.

Biệt điện Trần Lệ Xuân nay là Trung tâm lưu trữ Quốc gia IV. 


Trước đây, chúng tôi đã được TS. Phạm Thị Huệ, nguyên Giám đốc Trung tâm lưu trữ Quốc gia IV, nơi đang trực tiếp quản lý biệt điện Trần Lệ Xuân đưa khi “thị sát” toàn bộ khu vực biệt điện. Tuy nhiên, trên toàn bộ diện tích 12.000m2 của biệt điện, không hề phát hiện dấu vết nào của đường hầm như lời đồn thổi nói trên. Trong ba ngôi biệt thự tại biệt điện Trần Lệ Xuân thì biệt thự Lam Ngọc có hai hầm mà Trung Tâm Lưu trữ Quốc gia IV chú thích là “hầm trú ẩn” và “hầm thoát hiểm”. Riêng biệt thự Hồng Ngọc và Bạch Ngọc không có bất cứ căn hầm nào.

Về phía hai căn hầm tại biệt thự Lam Ngọc, hầm trú ẩn có miệng hầm, nắp bằng sắt dày vài ly và súng bình thường bắn khó xuyên qua. Dưới nắp che là một hầm được xây rất kiên cố có diện tích khoảng 3 - 4m2, được ốp gạch men. Tại đây, hầm không có lối nào dẫn thông ra ngoài. Riêng hầm thoát hiểm có nắp chống đạn bằng kim loại, bên dưới là một phòng rộng khoảng hơn 10m2. Đường hầm được thông ra ngoài khuôn viên biệt thự bằng một lối đi khác.

Cửa đường hầm thoát hiểm tại biệt thự Lam Ngọc. 


Ông Dương Quang Bền, nguyên là cán bộ Cục Lưu trữ Nhà Nước cho biết: “Khi tôi vào thì xung quanh khu biệt điện Trần Lệ Xuân còn rất hoang sơ và trong khu biệt điện này không hề có một đường hầm nào dẫn đến sân bay Cam Ly như những gì người ta đã từng nói. Trong biệt thự Lam Ngọc có hai căn hầm nhưng chỉ là để trú ẩn và thoát hiểm ra khỏi tòa nhà chứ không dẫn đi đâu cả. Đây thực chất là những hầm lánh nạn nội bộ, trên nắp hầm thoát hiểm có hệ thống nhà vệ sinh giả có thể di chuyển được để ngụy trang cho hầm ở dưới khi có biến cố”.

Trong khi đó, cụ Nguyễn Văn Thành (82 tuổi), ngụ gần khu biệt điện Trần Lệ Xuân từ năm 1976 cho biết, mới chỉ nghe nói là có đường hầm chứ chưa bao giờ tận mắt chứng kiến. Theo cụ Thành, đường hầm từ biệt điện Trần Lệ Xuân ra sân bay Cam Ly là khó có thể xảy ra. Bởi lẽ việc đào đường hầm dài tới 2km dưới lòng đất, băng qua nhiều quả đồi cao, thung lũng sâu vào thời điểm năm 1958 là khó có thể xảy ra.

Qua tìm hiểu thực tế tại các căn biệt thự ở Đà Lạt được người Pháp và người Việt Nam giàu có cho xây từ những năm đầu thế kỷ XX, thì hầu hết bên trong những căn biệt thự này đều có đường hầm trú ẩn nội bộ chứ không phải là đường hầm thoát hiểm trong lòng đất. Có thể do xuất hiện những căn hầm trú ẩn, hầm thoát hiểm trong khu biệt điện Trần Lệ Xuân mà dư luận đã nghi hoặc, rỉ tai nhau là có đường hầm nối ra tới sân bay Cam Ly.

Chủ Nhật, 24 tháng 11, 2013

Chiến trường “ma ám” nổi tiếng thế giới

Trận chiến Stoney Creek đã thành dĩ vãng, nhưng thật kỳ quái, nhiều năm qua, người dân vẫn nghe thấy tiếng bom đạn, ngửi thấy mùi thuốc súng vương vất đâu đây.

1. Trận chiến Stoney Creek năm 1812


Cuộc chiến tranh kéo dài dưới 45 phút nhưng để lại thương vong nặng nề cho cả hai bên tham chiến. Trong trận chiến đó, phía Mỹ đã mất đi hai vị tướng quan trọng.
Người Mỹ mang theo 3.400 quân và có lợi thế hơn hẳn so với phái Anh khi họ chỉ có 700 binh sĩ. Tuy nhiên, trong cuộc chiến ngắn ngủi đó, 23 lính Anh thiệt mạng và quân Mỹ cũng mất 16 người.

Hiện người dân sống ở Stoney Creek thỉnh thoảng nhìn thấy những người đàn ông xuất hiện trong quân phục Anh và đi bộ xung quanh khu vực. Nhưng nếu như ai đó tiến tới gần họ thì những bóng ma trên sẽ biến mất ngay lập tức. Một số nhân chứng khác còn ngửi thấy mùi thuốc súng vương vất trong không khí và nghe được những âm thanh của tiếng súng, bom đạn. Có người còn nhìn thấy một con chó đen to lớn hay những cỗ xe ngựa nhưng sau đó chúng đều biến mất như một làn khói giữa không trung...

2. Trận chiến Antietam

Trận Antietam diễn ra vào ngày 17/9/1862 tại Antietam Creek, Virginia, Mỹ. Mặc dù trận chiến chỉ kéo dài 4 tiếng đồng hồ nhưng hơn 23.000 binh sĩ thuộc hai bên đã thiệt mạng. Đây được coi là ngày tồi tệ nhất trong cuộc nội chiến ở Mỹ.

Một số người cho hay, khu vực Antietam Creek thường xảy ra những điều huyền bí, ma quái đặc biệt là khu vực xung quanh cầu Burnside. Một số nhân chứng cáo buộc, họ ngửi thấy mùi thuốc súng, tiếng súng nổ hay nhìn thấy một người đàn ông cưỡi ngựa đen thường xuyên xuất hiện ở gần cây cầu trên.
Một khu vực thuộc nhà thờ Episcopal từng được lực lượng miền Nam sử dụng trong cuộc chiến Antietam như một bệnh viện cũng bị cho là có ma ám. Một số người khi bước vào nhà thờ này đã nhìn thấy cảnh tượng hãi hùng là sàn nhà dính đầy máu nhưng không có cách nào có thể lau sạch chúng. Người ta còn nghe thấy tiếng ngựa hí và những cỗ xe di chuyển phát ra từ khu vực xung quanh cây cầu. Họ còn ghi âm lại những âm thanh kinh hoàng đó để làm bằng chứng.

3. Trận chiến Gettysburg

Theo số liệu ước tính, 56.000 binh sĩ thuộc Liên minh các lực lượng miền Nam ở Mỹ đã hy sinh trong cuộc chiến tại Gettysburg năm 1863. Điều thú vị là người ta chỉ ghi nhận một trường hợp dân thường tử vong duy nhất đó là cô gái Jennie Wade, 20 tuổi. Cô qua đời khi đang làm bánh quy trong nhà tại một thị trấn ở Gettysburg. Tên bay đạn lạc đã xuyên đúng vào đầu khiến cô gái trẻ chết ngay tại chỗ.

Chiến tranh đã kết thúc nhiều năm nhưng một số người lại cho rằng, họ nhìn thấy những người đàn ông diễu hành, cưỡi ngựa, nghe thấy tiếng bom đạn, pháo nổ. Một số khác còn cho biết họ nhìn thấy những điều kỳ lạ và bất thường xảy ra tại chính nơi ở của mình.
Ví dụ như vòi nước trong phòng tắm tắt bật bất thường và ngay cả tủ đựng quần áo cũng thế. Có người còn nhìn thấy những người lính mặc quân phục đi qua phòng của họ. Thỉnh thoảng, những "bóng ma" đó còn đi xuyên từ bức tường này sang bức tường khác.
Người dân sống trong khu vực này còn ngửi thấy mùi thịt cháy khủng khiếp. Trong trận chiến đẫm máu Gettysburg, 8.000 con ngựa đã ngã xuống và bị thiêu cháy. Chính quyền đã tìm thấy hầu hết những ngôi mộ của những người lính đã ngã xuống và được chôn cất tại đây. Tuy nhiên, hàng năm người ta vẫn phát hiện ra nhiều ngôi mộ mới và có nhân chứng nhìn thấy những bóng ma đi lại xung quanh khu vực trên.
Người dân nơi đây cho rằng, các linh hồn xuất hiện nhiều nhất khi sương mù trùm kín không gian. Những người lính đã bỏ mạng nơi chiến trường sẽ xuất hiện trong tư thế cưỡi ngựa và di chuyển thành hàng dài. Các "bóng ma" thường di chuyển về phía người nào nhìn hay nghe thấy âm thanh khác lạ trên.

4. Chiến trường Cold Harbor

Trận chiến Cold Harbor diễn ra từ ngày 31/5-12/6/1864 là một trong những trận chiến đẫm máu nhất suốt cuộc nội chiến ở Mỹ. Lực lượng liên minh chung do tướng Ulysses Grant chỉ huy chống lại lực lượng miền Nam do tướng Robert E. Lee lãnh đạo. Giao tranh hai bên diễn ra ác liệt trong hơn hai tuần khiến 32.000 binh sĩ thuộc hai bên bỏ mạng. Nơi đây đã trở thành biển máu kinh hoàng trong lịch sử Mỹ, khiến người dân vẫn còn cảm giác hãi hùng mỗi khi nhắc đến.


Cho đến nay, những tờ báo địa phương thường xuyên đưa tin về những nhân chứng nghe thấy và nhìn thấy những thứ kỳ lạ liên quan tới chiến trường này. Nhiều người khẳng định, họ vẫn nghe thấy âm thanh của pháo, súng và tiếng người la hét, tiếng ngựa kêu nhưng khi nhìn kỹ xung quanh thì chẳng có gì. Trong khi đó, du khách đến khu vực này tham quan, tìm hiểu lịch sử thì ngửi thấy mùi thuốc súng ở những cột mốc lịch sử. Rùng rợn hơn, người ta còn đồn rằng, Cold Harbor bị ám bởi một hồn ma của cô gái trẻ nào đó.

5. Chiến trường Dieppe

Trận đột kích Dieppe còn được mọi người biết đến là trận Jubilee diễn ra vào lúc 5h sáng ngày 19/8/1942 và kết thúc vào khoảng 2h chiều cùng ngày. Trong cuộc chiến đó, khoảng 4.000 binh sĩ đã ngã xuống và quân Đồng minh bắt đầu rút lui qua kênh đào Anh.


Tới năm 1951, hai du khách đi nghỉ tại vùng Puys, gần Dieppe đã nói rằng, họ bị đánh thức vào lúc 4h sáng vì nghe thấy tiếng súng, tiếng la hét cũng như tiếng đánh nhau vang vọng từ bãi biển gần khách sạn mà họ đang lưu trú. Ba giờ sau, họ tiếp tục nghe thấy những âm thanh đáng sợ trên và ghi âm chúng lại. Sau khi trải qua sự việc ma quái trên, hai khách du lịch trên đã gửi đoạn băng ghi âm đến một tổ chức nghiên cứu để phân tích. Sau khi kiểm tra, các chuyên gia phát hiện những âm thanh mà hai người khách du lịch ghi âm được hoàn toàn trùng khớp từng thời điểm của các sự kiện diễn ra trong trận Dieppe.

Thứ Bảy, 23 tháng 11, 2013

Chuyện lạ về trùm mafia nổi tiếng chung tình

Sống trong thế giới ngầm với đầy rẫy cám dỗ của tiền bạc và sắc dục, nhưng trùm mafia khét tiếng Chicago Sam Giancana lại hết mực chung thủy với vợ.

Những thập niên giữa thế kỷ XX, Sam Giancana trở thành trùm sò mafia khiến người dân Chicago vô cùng khiếp sợ. Hắn trở thành nhân vật có máu mặt trong thế giới ngầm mà nhiều băng nhóm mafia khác cũng phải nể nang. Không những là trùm sò của một băng đảng khét tiếng, Sam Giancana cũng đích thân ra tay sát hại hơn 200 người. Đối lập với cuộc sống nhuốm màu tội lỗi trong thế giới ngầm, Giancana lại là người chồng hết mực chung thủy với vợ và thương yêu con cái.

Tuổi thơ sóng gió

Giancana tên thật là Salvatore. sinh ngày 24/1/1908 tại Chicago, có cha là Antoni - người Italy di cư tới khu vực Litle Italy nằm ở khu phía Tây Nam của thành phố Chicago. Đa số tội phạm đều dấn thân vào con đường tội lỗi vì có tuổi thơ không êm đềm. Giancana cũng không ngoại lệ. Hắn sinh trưởng trong gia đình đông con nên đời sống kinh tế vô cùng khó khăn. Ông Antoni mở một cửa hàng bán đá để nuôi sống cả gia đình. Do hoàn cảnh khó khăn nên Giancana thường xuyên bị người cha hung dữ đánh đập từ khi còn nhỏ.


Trùm mafia khét tiếng đất Chicago (Mỹ) Sam Giancana lớn lên trong nghèo đói và thường xuyên bị cha đánh đập.

Giancana ngày càng trơ lỳ với đòn roi rồi nhanh chóng biến thành một "chú ngựa bất kham". Khi đang học cấp 2, Giancana đã gây ra một vụ đánh nhau và bị đuổi khỏi trường. Sau khi chuyển đến trường mới, hắn lại ngựa quen đường cũ, gây lộn đánh nhau nên lại bị đuổi học. Kể từ đó, Giancana sống lang thang và bắt đầu hành trình tội lỗi. Khởi đầu cho cuộc đời đen tối của hắn là hàng loạt các vụ trộm cắp vặt, đánh nhau quanh khu Litle Italy. Sau đó, hắn tham gia băng nhóm có tên “The 42s” - một băng đảng đường phố chuyên làm việc vặt cho ông trùm tội phạm khét tiếng Al Capone ở Chicago thời đó.

Kể từ khi gia nhập băng này, Giancana liên tiếp lập công và nhanh chóng được ông trùm trọng dụng. Đến năm 1929, cảnh sát bắt Giancana tội trộm cắp xe hơi ở khu Litle Italy và phải bóc lịch trong 3 năm. Sau khi ra tù, hắn lao vào sản xuất rượu lậu. Năm 1939, Giancana lại bị cảnh sát tóm và phải ngồi tù 4 năm. Trong thời gian này, hắn đã kết thân với tên tù Eddie Jones. Người này đã chỉ cho hắn những mánh khóe cờ bạc.

Năm 1943, Giancana ra tù. Băng “The 42s” vào thời điểm đó đã đổi chủ là Anthony Accardo. Người này trước kia là tay sai và vệ sĩ cho trùm mafia Al Capone. Giancana đã xin phép Anthony cho mở sòng bạc bất hợp pháp để kiếm tiền rồi nộp lại số lời cho tổ chức. Với những mánh khóe học được từ bạn tù cộng thêm tính cách độc đoán, dã man, hắn và đồng bọn nhanh chóng trở thành những kẻ có máu mặt trong thế giới ngầm. Khoản tiền lời kiếm được chất cao như núi, và đương nhiên, Giancana không quên "cống nạp" cho ông trùm. Dần dần, y trở thành nhân vật quyền lực thứ hai trong băng đảng và có những mối quan hệ thân thiết với giới nghệ sĩ như Frank Sinatra, Joe E. Lewis, Rocky Graziano…
Năm 1957, khi trùm mafia Accardo quyết định “về vườn” nghỉ ngơi và làm cố vấn cho tổ chức thì Giancana nghiễm nhiên trở thành sự lựa chọn hoàn hảo cho chiếc ghế còn trống. Hắn đường đường chính chính trở thành trùm mafia và thỏa sức tung hoành ở mảnh đất phồn hoa Chicago.
Trùm mafia nổi tiếng chung tình

Năm 1933, Giancana lập gia đình khi 25 tuổi. Đó cũng là thời điểm hắn mới được ra tù do phạm tội lần đầu. Người phụ nữ chiếm được trái tim của mafia này là Angeline De Tolve. Cô cũng là người Italy di dân đến Mỹ sinh sống. Vợ chồng Giancana có với nhau 3 đứa con nhưng đều là con gái.
Giancana chẳng mấy bận tâm đến việc không có con trai nối dõi. Dù có nhiều gái đẹp vây quanh, hắn vẫn rất mực chung thủy với vợ và yêu thương những cô công chúa nhỏ của mình.

Giancana rạng rỡ bên người vợ Angeline. Hắn là người chồng hết mực thương yêu vợ con.

Mái ấm của trùm mafia khét tiếng đất Chicago gặp sóng gió khi người vợ mắc bệnh nặng và qua đời vào năm 1954. Kể từ đó, hắn chỉ chú tâm vào sự nghiệp và dồn hết tình yêu cho các con.
Mặc dù Giancana có những mối tình thoáng qua với nhiều nữ diễn viên, ca sĩ xinh đẹp nhưng không tái hôn. Trong số những nhân tình mà hắn qua lại có nữ diễn viên xinh đẹp nhưng không nổi tiếng là Judith Campbell Exner. Người này sau đó được cho là nhân tình bí mật của Tổng thống Mỹ John F. Kennedy.

Quan hệ "mờ ám" với Tổng thống?

Lợi dụng các mối quan hệ của Giancana, Judith đã làm quen với Tổng thống John F. Kennedy và sau này trở thành nhân tình bí mật của ông chủ Nhà Trắng. Người ta đồn đại rằng, mối quan hệ bí ẩn, phức tạp giữa Giancana và Kennedy là nguyên nhân chính khiến y bị trừ khử một cách dã man.

Có lời đồn rằng, Giancana đã dùng thế lực của mình để huy động lượng lớn cử tri bỏ phiếu ủng hộ cho Tổng thống Kennedy trong cuộc đua vào Nhà Trắng năm 1960.

Tổng thống Kennedy được cho là có móc nối quan hệ với trùm mafia Giancana.

Giancana cũng từng mạnh miêng tuyên bố rằng, y là người đã giúp Tổng thống Kennedy giành được những lá phiếu quan trọng ở Cook County thuộc bang Illinonis. Số phiếu đó giúp ứng cử viên Kennedy đắc cử. Tuy nhiên, sau khi đã yên vị trong Nhà trắng, Tổng thống Kennedy vô cùng tích cực trong việc chỉ đạo cấp dưới trấn áp mạnh mẽ bọn tội phạm. Đến năm 1963, chính quyền Tổng thống Kennedy giám sát 24/24 giờ căn nhà nơi Sam Giancana sinh sống ở Oak Park.

Đến năm 1965, Sam Giancana bị đưa ra xét xử vì tội từ chối làm chứng trước tòa trong một cuộc điều tra tội phạm có tổ chức ở Chicago và bị kết án một năm tù giam. Sau khi mãn hạn tù, y chuyển tới Mexico sinh sống cho đến năm 1974.

Sau đó, y bị chính quyền Mexico dẫn độ về Mỹ để tiếp tục làm chứng trong một phiên tòa khác có liên quan đến băng nhóm tội phạm ở Chicago. Do được hưởng nhiều chính sách khoan hồng của chính quyền nên Giancana bị những thành viên trong băng đảng nghi ngờ đã phản bội lại tổ chức để đổi lấy những quyền lợi cho bản thân. Ngày 19/6/1975, Giancana bị những tên sát thủ lẻn vào nhà và bắn chết trong khi đang nấu ăn. Thấy hắn ngã xuống đất, nhóm sát thủ còn bắn thêm 6 viên đạn xung quanh miệng. Cuộc đời của Giancana đã kết thúc trong biển máu. Sau khi qua đời, y được chôn cất bên cạnh người vợ quá cố tại khu nghĩa trang gia đình ở Mount Carmel, Illinois.

Thứ Năm, 21 tháng 11, 2013

Giải mật cuộc săn tìm “vũ khí thần kỳ” của Hitler

Dù vũ khí tối tân thời Thế chiến II không cứu Đức khỏi thất bại, nhưng khiến Mỹ, Liên Xô, Anh ở vào thế tương tranh để đoạt bí mật công nghệ.

Cuộc săn tìm vũ khí bí mật của Hitler


Vào thập niên 1940, nước Đức có một nền khoa học có thể nói là đã đi trước toàn nhân loại. Chỉ riêng trong các ngành chế tạo vũ khí, họ đã đi trước các cường quốc khác rất xa. Trong khi quân đội các nước vẫn còn tác chiến với các loại vũ khí thông thường thì cuối Thế chiến II, quân đội Đức đã đưa vào sử dụng tên lửa xuyên lục địa, tên lửa phòng không điều khiển, bom bay…
Mặc dù các loại vũ khí này không cứu Đức khỏi thất bại song nó đã khiến các cường quốc Mỹ, Liên Xô, Anh ở vào thế tương tranh để đoạt được những bí mật công nghệ. Theo James Mc Govern trong cuốn Cuộc săn tìm vũ khí bí mật của Hitler, sau các vụ quân Đức phóng tên lửa sang London, Mỹ, Liên Xô, Anh đã bắt đầu quan tâm đến việc tìm hiểu những vũ khí thần kỳ của Đức. Cho đến khi chiến cuộc gần kết thúc thì chẳng những các nước này đã biết đích xác nơi sản xuất của các loại vũ khí tối tân đó mà còn có danh sách chi tiết từng nhà khoa học, kỹ thuật viên tham gia. Vấn đề bây giờ là nước nào sẽ chiếm được kho tàng đó của Hitler.

Tên lửa V-2 trong một lần phóng. Ảnh: Internet. 

Trong lãnh thổ Đức, các kỹ thuật gia hàng đầu về hỏa tiễn đều tập trung ở vùng bán đảo Peenemunde. Chính đây là nơi đã thử nghiệm rồi sản xuất ra tên lửa xuyên lục địa V-2 cùng các loại tên lửa hiện đại khác. Giữa tháng 2/1945, không muốn các vũ khí này lọt vào tay Hồng quân, quân phát xít đã cho di chuyển toàn bộ nhân viên cùng trang thiết bị từ Peenemunde về Nordhausen. 18 ngày sau, Hồng quân vào được trung tâm Peenemunde trong tình trạng “vườn không nhà trống”.
Nhưng "tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa", không lâu sau, Nordhausen bị quân Mỹ tràn ngập. Người Mỹ không mất nhiều thì giờ để khám phá ra 2 đường hầm song song nhau dài gần 2 km ăn sâu vào trong lòng núi đá. Ở đây, các bộ phận của tên lửa V-1, V-2 được chất thành những lớp lang đều đặn . Ngay lập tức, chúng được thu xếp đưa về Mỹ.
Trong cuộc đua tìm kiếm các vũ khí “bảo bối” của Hitler, rõ ràng Mỹ đã thắng Anh và Nga một hiệp. Nhưng người Nga may mắn hơn người Anh vì theo thỏa thuận từ hội nghị Yalta, vùng Nordhausen mà Mỹ chiếm được lại thuộc phạm vi chiếm đóng của Hồng quân. Bởi thế, người Mỹ phải sớm bàn giao lại cho Liên Xô. Mặc dù Mỹ đã tháo dỡ hầu hết kho tàng của Đức trước khi bàn giao nhưng ở đây vẫn còn hàng ngàn kỹ thuật viên có thể giúp Liên Xô tìm hiểu về công nghệ hỏa tiễn điều khiển.
Liên Xô đi sau đến trước
Ngày 9/5/1945, nước Đức đầu hàng vô điều kiện, chiến tranh chấm dứt trên đất Đức. Các nước Đồng Minh theo thỏa thuận chia nhau chiếm đóng các khu vực trên đất nước này. Nước Mỹ đã giành được thắng lợi bước đầu trong cuộc săn tìm vũ khí của Hitler, giờ đây lại tỏ ra nhanh chân hơn Liên Xô và Anh. Họ bắt tay ngay vào một chiến dịch nhằm khai thác nhân lực. Ngày 25/7/1945, đại tá Toftoy – chỉ huy trưởng phân bộ hỏa tiễn của Nha Quân cụ Mỹ được chỉ thị sang châu Âu để tuyển chọn một số khoa học gia Đức trong khuôn khổ một kế hoạch mang tên Overcast.
Bằng nhiều biện pháp, ông này đã ký được hợp đồng với 115 nhà khoa học hàng đầu về hỏa tiễn của Đức. Đến đầu năm 1946 đã có hơn 100 nhà khoa học Đức tới Mỹ. Tiếp sau đó, Chính phủ Mỹ mở rộng kế hoạch, cho phép cả gia đình các chuyên viên cũng được di cư sang Mỹ đồng thời các hợp đồng được kéo dài không giới hạn. Nhờ các chiến lợi phẩm lấy ở Nordhausen và số kỹ thuật gia đưa được về Mỹ, ngay trong năm 1946, Mỹ đã ráp nối lại được các quả tên lửa V-2 để phóng thử nghiệm.

Vệ tinh Spoutnik II. Ảnh: Internet. 

Mặc dù những người có khả năng nhất của trung tâm nghiên cứu hỏa tiễn Peenemunde đã được đưa sang Mỹ nhưng ở lại nước Đức vẫn còn một số kỹ thuật viên tài ba. Họ sống trong vùng do Hồng quân kiểm soát và bằng nhiều biện pháp như người Mỹ, Liên Xô cũng đã thuyết phục được họ cộng tác để khôi phục lại việc nghiên cứu hỏa tiễn. Một trong số họ là kỹ sư Helmet Grottrup.
Nhưng nếu người Mỹ phải qua rất nhiều tranh cãi giữa nhiều ngành nhiều giới mới đi đến kế hoạch overcast thì Liên Xô thực hiện kế hoạch của họ rất đơn giản. Ngày 22/10/1946, Helmet Grottrep và các phụ tá phải họp suốt 1 ngày với tướng Gaidoukov. Trong khi đó, lính Liên Xô đến nhà từng người, mang theo những bao tải và thùng gỗ để dọn sạch sẽ nhà họ và đưa hết ra ga.
Thì ra trong gần 1 năm, mật vụ Liên Xô đã âm thầm lập danh sách những người Đức ở khu vực chiếm đóng của họ. Chỉ trong 1 đêm, họ đã tập trung gần 5.000 chuyên viên Đức đang ở rải rác khắp miền đông Đức lại một chỗ. Cộng thêm gia đình của họ, số người lên tới 20.000 có lẻ. Tất cả được dồn lên những toa xe lửa dài đưa thẳng về Liên Xô rất gọn gàng, nhanh chóng.
Các chuyên viên của Đức được bố trí làm việc ở nhiều nơi khác nhau để khởi động lại các chương trình tên lửa đang tiến hành dở dang dưới thời Đức quốc xã. Liên Xô không bắt giữ họ mà chỉ muốn học hỏi kỹ nghệ của họ. Năm 1950, gia đình Grottrup đã được trở về quê hương. Các kỹ sư, chuyên viên khác cũng lần lượt được trở về trong năm sau.

Chú chó Laika trong vệ tinh Spoutnik II. Ảnh: Internet. 

Công nghệ hỏa tiễn của Đức chẳng những giúp cho các nước có được nó phát triển được vũ khí tầm xa mà quan trọng hơn còn là tiền đề quan trọng để con người chinh phục không gian. Với máy bay, con người vẫn chưa thể thoát khỏi lực hấp dẫn của trái đất nên chỉ mới chinh phục được bầu trời. Với tên lửa, khả năng bay vào không gian để chinh phục vũ trụ đã mở ra.
Thật vậy, cuối thập niên 1950, lần đầu tiên con người đã đưa được một vệ tinh lên quỹ đạo. Đó là sự kiện vệ tinh Spoutnik I được Liên Xô phóng lên quỹ đạo ở độ cao 900 km ngày 4/10/1957. Ngày 3/11, Liên Xô phóng tiếp vệ tinh Spoutnik II mang theo chú chó Laika bay vòng quanh trái đất. Trong khi đó, các chương trình nghiên cứu tên lửa của Mỹ vẫn còn dở dang và thường xuyên bị đình hoãn vì những lý do quan liêu. Họ đã bị Liên Xô vượt mặt trong cuộc đua vào không gian.
Nhiều người Mỹ cho là họ đã không tập hợp được đông đủ những nhà khoa học Đức cần thiết. Nhưng Khrushchev đọc diễn văn ở Minsk nói rằng: các nhà khoa học Đức không có liên hệ gì với Spoutnik cả. Tổng bí thư Liên Xô đã nói thật và sự thật là Liên Xô cho các nhà khoa học Đức làm việc với các nhà khoa học của mình. Đến khi đã “tận dụng” được hết thì các nhà khoa học Đức dần dần bị gạt ra, chỉ còn các nhà khoa học Liên Xô tiếp tục nghiên cứu phát triển. Đó là lý do vì sao Liên Xô đi sau nhưng tiến vào không gian trước Mỹ.

Thứ Tư, 20 tháng 11, 2013

Tìm lời giải thân thế bí ẩn của nàng Mona Lisa

Thông qua xét nghiệm ADN các bộ xương trong hầm mộ, các nhà khoa học Italy tin rằng, họ sẽ bật mí được thân thế thật sự của nàng Mona Lisa.

Các nhà nghiên cứu Italy cho hay, họ đang kiểm tra, phân tích ADN những bộ xương trong một hầm mộ mới khai quật tại Florence. Một trong số những bộ xương đó được tin là của nàng Mona Lisa nổi tiếng – người mẫu bức chân dung nổi tiếng của danh họa Leonardo da Vinci.

Hầm mộ của dòng họ Gherardini ở thành phố Florence, Italy vừa được mở ra lần đầu tiên sau hàng trăm năm đóng kín. Các nhà nghiên cứu tin rằng người phụ nữ đã truyền cảm hứng cho bức họa nổi tiếng trên có tên Lisa Gherardini Del Giocondo. Bà là vợ của một thương gia bán lụa ở thành Florence. Thêm vào đó, gia đình nhà Gherardini từng sống rất gần nhà danh họa tài hoa Da Vinci.

Các chuyên gia cho rằng, nàng Mona Lisa tên thật là Lisa Gherardini đã trở thành nguồn cảm hứng cho Leonardo da Vinci vẽ nên kiệt tác để đời vào thế kỷ VXI. Bức chân dung vẽ một người phụ nữ bí ẩn nở nụ cười hiện đang được trưng bày tại bảo tàng Louvre ở Paris (Pháp.

Các nhà khoa học đang kiểm tra ADN các bộ xương trong hầm mộ mới được phát hiện với hy vọng sẽ tìm ra thân thế thật sự của nàng Mona Lisa.

Năm 2012, hầm mộ nằm trong nhà tu kín St. Ursula ở thành phố Florence cũng đã được mở ra. Người ta đã tìm thấy một số hài cốt có thể là của Lisa Gherardini.
Để có thể khẳng định chính xác thi hài nào là của Lisa, những mẫu thử đã được thực hiện để đem so sánh với ADN của hai người con trai bà Lisa.

Chủ nhiệm Ủy ban Quốc gia về đánh giá tài sản lịch sử văn hóa và môi trường Ý Silvano Vinceti cho hay: “Hiện các chuyên gia xét nghiệm carbon-14 trên 3 trong số 8 hài cốt trong ngôi mộ được tìm thấy ở St Ursula. Thông qua đó, chúng ta có thể xác định chính xác tuổi mà Lisa Gherardini qua đời. Thông qua những thử nghiệm carbon trên, chúng sẽ giúp các nhà khoa học xác định bộ xương nào có niên đại từ những năm 1500. Khi đó, chúng ta sẽ biết được bộ xương nào phù hợp nhất để làm xét nghiệm ADN cuối cùng".

Việc phân tích ADN của các bộ xương trên chỉ là một phần của công việc. Ông Vinceti và các cộng sự cũng cần phải kiểm tra mối liên hệ giữa hài cốt mới được tìm thấy với ADN của hai người con trai Gherardini. Đó cũng chính là lý do tại sao nhóm nghiên cứu lên kế hoạch lấy mẫu vật từ ngôi mộ thuộc gia đình Gherardini trong Vương cung Thánh đường Santissima Annunziata – nơi mà con trai và thương gia Francesco Del Giocondo được chôn cất.

Hãng thông tấn ANSA cho biết, chuyên gia sẽ khai quật ngôi mộ của gia đình Gherardini lần đầu tiên trong vòng 300 năm qua.
Bên trong phần mộ của gia đình Del Gioncondo tại Vương cung Thánh đường Santissima Annunziata ở Florence, Italy.

Chồng của Lisa từng mời danh họa Da Vinci tới nhà để vẽ tranh chân dung cho vợ nhân dịp bà mang thai người con trai thứ hai. Thêm vào đó, họ cũng vừa mua ngôi nhà gần nơi ở của danh họa Da Vinci hồi những năm 1502-1503.

Sau khi chồng qua đời, bà Lisa trở thành một nữ tu. Bà qua đời vào năm 1542 ở tuổi 63. Sau đó, bà được chôn cất trong hầm mộ của tu viện cùng với những nữ tu khác.

Nếu các nhà nghiên cứu có thể xác định được hài cốt của bà Lisa trong số những bộ xương mới được tìm thấy thì họ có thể làm sáng tỏ nhiều vấn đề. Cụ thể, dựa trên cấu trúc xương của Lisa, các chuyên gia sẽ dựng lại được hình dáng khuôn mặt và thân hình của bà để đem so sánh với người mẫu trong bức tranh bí ẩn mà Leonardo da Vinci đã vẽ.

Nếu công việc này được tiến hành suôn sẻ, hai câu hỏi lớn mà giới sử gia và nghệ thuật đã trăn trở trong suốt hàng thế kỷ qua sẽ được giải đáp đó là: Lisa Gherardini có phải là Mona Lisa không? Có phải bức tranh để đời của Leonardo da Vinci thực hiện phần nhiều dựa trên trí tưởng tượng hay không?

Các nhà khoa học đưa ra một số giả thuyết về nụ cười “đặc biệt” của Mona Lisa như bà có hàm răng xấu hay bị liệt bẩm sinh. Tuy nhiên, họ cũng phải chờ đến khi có kết quả xét nghiệm pháp y mới có thể đưa ra những kết luận và sự giải thích hợp lý mang tính khoa học về nụ cười của nàng Mona Lisa.