Tổng số lượt xem trang

Thứ Sáu, 3 tháng 10, 2014

Những vũ khí đáng sợ nhất trong Chiến tranh thế giới I

Chúng là những thứ vũ khí khủng khiếp, có tính sát thương cao nhất trong Chiến tranh thế giới thứ I.
Có thể nói, với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, chiến tranh ngày nay đã khác xa chiến tranh thông thường trước kia. Chiến tranh hiện đại là cuộc chiến cơ giới hóa, điện tử, mạng… - những hình thức chiến tranh mà hành động của con người có vai trò ít quan trọng nhất. Điều đó hoàn toàn trái ngược trong cách thức tiến hành và diễn biến của Chiến tranh thế giới thứ I năm 1914. Những người châu Âu đã mộng mị bước vào cuộc chiến với những đoàn kỵ binh và bộ binh được trang bị những lưỡi lê gắn trên nòng súng. Họ đã phải thức tỉnh khi đương đầu với súng máy, tàu ngầm, xe tăng và máy bay của Đức. Chúng là những thứ vũ khí khủng khiếp, có tính sát thương cao nhất trong Chiến tranh thế giới thứ I. Dưới đây là một số loại vũ khí đó:

Súng máy MG 08

Súng máy từng có vai trò rất quan trọng trong việc chống lại các lực lượng nổi dậy ở châu Âu, và những binh lính ở lục địa này tỏ ra vô cùng phấn kích khi có được loại vũ khí mạnh mẽ đó. Nhưng niềm vui, sự phấn khích đó nhanh chóng tan biến khi những khẩu súng máy này được sử dụng trong Chiến tranh thế giới thứ I.

Súng máy MG 08. 

Hình ảnh đáng nhớ nhất trong cuộc chiến này có lẽ là sự xuất hiện của súng máy, đặc biệt là súng của Đức. Đức đã trang bị rất nhiều súng máy cho binh lính của mình, số lượng luôn vượt trội so với đối phương. Trong Chiến tranh thế giới I thì súng máy của Đức thường chiếm ưu thế hơn so với đối thủ.

MG 08 là súng máy tiêu chuẩn của Đức. Một phiên bản của súng liên thanh Hiram được thiết kế từ năm 1894, nó là một vũ khí cồng kềnh theo tiêu chuẩn hiện đại. Phiên bản đầu tiên nặng khoảng 27kg cộng thêm 45kg giá đỡ và phụ tùng đi kèm. Kể cả khi sau này được đặt trên một cái giá tiện dụng hơn thì nó cũng không phải là một loại vũ khí cơ động.

Tuy nhiên, nó có khả năng bắn 500 phát/phút, có thể ngăn chặn những cuộc tấn công ồ ạt của quân đồng minh. Loại này vẫn được sử dụng trong quân đội Trung Quốc và Triều Tiên đến năm 1964.

Xe tăng Mark V

Bất kỳ một loại vũ khí nào đều có đối thủ chống lại nó. Đối thủ của súng máy là xe tăng. Súng máy có thể trụ vững trong một khoảng thời gian trước những cuộc pháo kích của đối phương, nhưng việc thay đổi cục diện trên chiến trường là rất khó khăn. Nhưng một chiếc xe bánh xích được bọc thép tốt là đủ để chống lại hỏa lực của súng máy và có thể xuyên qua hàng rào dây thép gai, mở cửa mở, tạo điều kiện cho những đợt tấn công của bộ binh xuyên qua vùng giới tuyến mà không gặp phải sự chống trả hiệu quả nào.

Xe tăng Mark V. 


Loại xe tăng Mark V là loại xe tăng nặng nhất của Anh quốc trong Chiến tranh thế giới thứ I, 29 tấn. Mark V dài và rộng thích hợp cho việc vượt qua các hầm, hào. Nó được bọc một lớp giáp có độ dày 1,27 cm có tác dụng chống đạn súng trường và được trang bị một khẩu pháo 57mm có khả năng tiêu diệt ụ súng máy và công sự bê tông ngầm.

Những xe tăng đầu tiên loại này rất nóng, độ ồn cao và không đáng tin cậy. Ngồi trong xe tăng loại này rất nóng và rất dễ bị hỏa lực pháo binh của Đức tiêu diệt. Tuy nhiên, nó có đủ sức mạnh để chấm dứt sự bế tắc trên những chiến hào đẫm máu trong Chiến tranh thế giới thứ I.

Tàu ngầm Type 93

Tàu ngầm là một loại vũ khí đáng sợ nữa trong Chiến tranh thế giới thứ I, nó đánh dấu sự ra đời của một hình thức tác chiến dưới nước và chiến tranh cơ giới hóa. Một phiên bản tàu ngầm đầy uy lực của Đức là Type 93.

Tàu ngầm Type U-boat.

Loại tàu ngầm này có tốc độ không cao, ở dưới nước là 9 hải lý/giờ và trên mặt nước là 17 hải lý/giờ. Khả năng hoạt động của nó khá hạn chế (tàu ngầm đầu tiên sử dụng trong Chiến tranh thế giới thứ I có khả năng hoạt động dưới nước trong vòng 1 giờ), nhưng được trang bị súng trên boong loại 88mm hoặc 105mm và 6 ống phóng ngư lôi, 16 loạt. Đã có 24 chiếc Type 93 được đóng ở Đức và loại tàu ngầm này từng đánh chìm tàu chở hàng nặng 411.000 tấn của quân Đồng minh.

Đại bác Big Bertha và Paris Gun

Big Bertha là một khẩu đại bác khổng lồ của Đức với cỡ nòng khoảng 40cm, lớn hơn so với hầu hết các khẩu pháo trên các chiến hạm vào thời điểm đó. Với khả năng bắn một quả đạn pháo gần 1 tấn ở cự ly khoảng 12km, Big Bertha đã phá hủy các công sự của Bỉ vào năm 1914, cho phép quân đội Đức tiến quân qua Bỉ và gần như chiếm được Paris của Pháp.

Đại bác Big Bertha.


Ngược lại, đại bác Paris Gun lại dài và hẹp, bắn đạn nặng khoảng 90kg với tầm bắn khoảng 130km. Điều này cho phép quân Đức tiến hành oanh tạc tầm xa nhằm vào Paris của Pháp.


Paris Gun.

Giống như nhiều loại vũ khí khác, những khẩu pháo này rất đắt đỏ và dễ hỏng (Paris Gun chỉ có thể bắn được 20 viên đạn thì nòng đã bị mòn). Nhưng khả năng phá hủy công sự, hầm hào hoặc oanh tạc một thành phố từ một khoảng cách xa hơn 100km đã làm nên tiếng tăm của những loại vũ khí trên.

Thứ Tư, 1 tháng 10, 2014

Những sự thật khó tin khiến con người kinh ngạc

Người Mỹ làm mất một quả bom nguyên tử tại bang Georgia, heroin từng là thuốc chữa ho và cảm lạnh cho trẻ em...

Bangladesh tí hon nhiều dân hơn nước Nga khổng lồ



Bangladesh (màu xanh) và nước Nga (màu cam). 

Nước Nga trải rộng trên 9 múi giờ và là quốc gia rộng lớn nhất hành tinh. Tuy nhiên, dân số nước Nga không nhiều bằng Bangladesh, quốc gia rộng tương đương bang New York của Mỹ. Dân số Bangladesh là 156,6 triệu người, trong khi dân số nước Nga là 143,5 triệu người.

Một tên trộm lừa bán tháp Eiffel hai lần


Chân dung tên trộm hai lần lừa bán tháp Eiffel. 

Victor Lustig, tên trộm người Czech hai lần lừa bán thành công tháp Eiffel, một trong những biểu tượng của nước Pháp. Năm 1925, y đóng giả làm một bộ trưởng Pháp để mời các nhà tư bản tới đấu thầu dự án bán sắt vụn tháp Eiffel sau khi nó rỉ sét vì phơi mưa nắng suốt 20 năm. Một trong những nhà tư bản luyện kim chấp nhận bỏ 50.000 USD để mua tháp Eiffel vì cho rằng nó sẽ mang lại lợi nhuận lớn. Tuy nhiên, khi tới tháo dỡ tháp, ông này phát hiện mình bị lừa. Cuối những năm 1930, Lustig tiếp tục lừa bán thành công tháp Eiffel với giá 75.000 USD.

Não người nhiều khớp thần kinh hơn số sao trong dải Ngân Hà

Các nhà thiên văn học cho biết có hơn 200 tỷ ngôi sao trong dải Ngân Hà, nhưng các nhà thần kinh học ước đoán trong não một đứa trẻ 3 tuổi có khoảng 1 triệu tỷ khớp thần kinh. Con số này giảm xuống còn 500 nghìn tỷ trong não một người trưởng thành.

Mỹ đánh mất một quả bom nguyên tử ngoài khơi bang Georgia


Vị trí Mỹ thất lạc quả bom nguyên tử.

Ngày 5/2/1958, một chiếc máy bay ném bom B-47 của Mỹ gặp sự cố khi đang mang một quả bom hạt nhân nặng 3.175 kg. Phi công sợ quả bom nổ nên đã thả nó xuống vùng biển Savannah, ngoài khơi bang Georgia, Mỹ. Tuy nhiên, hải quân không thể tìm ra tung tích quả bom sau nhiều tháng lục tung đáy biển. Phi công cho biết đây là quả bom hạt nhân hoàn chỉnh, với đầy đủ vật liệu nổ. Tuy nhiên, nếu lớp vỏ bom không bị tổn hại, nó không gây ra hiện tượng rò rỉ phóng xạ.

Kim tự tháp Ai Cập xây trước thời voi ma mút tuyệt chủng

Các nhà nghiên cứu cho biết, kim tự tháp lớn nhất ở Ai Cập được xây từ năm 2550 tới năm 2490 trước công nguyên. Trong khi đó, voi ma mút tuyệt chủng năm 1650 trước công nguyên trên đảo Wrangle, Nga. Như vậy, con voi ma mút cuối cùng chết gần 1.000 năm sau khi kim tự tháp Ai Cập được hoàn thành.

Triều Tiên và Phần Lan bị một quốc gia ngăn cách



Nga ngăn cách Phần Lan và Triều Tiên.

Nga là quốc gia duy nhất ngăn cách Triều Tiên và Phần Lan. Quốc gia rộng lớn nhất thế giới có chung đường biên giới dài 17 km với Triều Tiên và dài 1.300 km với Phần Lan. Nếu tính theo đường chim bay, khoảng cách từ Triều Tiên tới Phần Lan là 6.700 km. Máy bay Boeing 777 cần gần 8 giờ để đưa một người từ quốc gia này tới quốc gia kia.

Bóng bay làm hai người Mỹ tử nạn
Người ta tổ chức lễ hội bóng bay lớn để gây quỹ ở Cleveland, bang Ohio, Mỹ. 1,5 triệu bóng bay được thả lên bầu trời đã phá vỡ kỷ lục thế giới xác lập trước đó. Tuy nhiên, gió đưa những trái bóng bay khắp nơi, gây cản trở cuộc sống của người dân và ảnh hưởng tới sân bay Burke Lakefront. Tồi tệ hơn, bóng bay bao phủ mặt biển nơi lực lượng tuần duyên Mỹ đang tìm kiếm hai người mất tích. Họ chết đuối vì không nhận được sự giúp đỡ kịp thời.

Heroin từng là thuốc chữa ho


Quảng cáo thuốc chữa ho heroin của Bayer.


Bayer, công ty dược phẩm sản xuất aspirin của Đức, từng sử dụng heroin để chữa ho, cảm lạnh và giảm đau trong những năm 1890 của thế kỷ trước. Cuối năm 1912, Bayer sử dụng chất gây nghiện này làm thuốc cho trẻ em dù xuất hiện nhiều cảnh báo về tác hại của nó. Năm 1914, người Mỹ hạn chế sử dụng các loại thuốc chứa chất này trước khi nó bị cấm hoàn toàn trong năm 1924.

Thứ Ba, 30 tháng 9, 2014

Thiên tài có phát minh ác độc nhất hành tinh

Tình cờ phát minh ra LSD - loại ma túy khiến con người chìm trong ảo giác, thiên tài Albert Hofmann đã phải chịu không ít điều tiếng.

Albert Hofmann (11/1/1906-29/4/2008) được biết đến như một nhà khoa học người Thụy Sĩ nổi tiếng nhất thế giới. Albert là người đầu tiên nghiên cứu và tìm hiểu về tác động ảo giác của lysergic axit diethylamide (LSD). Ông cũng là người tiên phong trong việc tổng hợp, đặt tên hiện tượng ảo giác hợp chất nấm psilocybin và psilocin.

Albert Hofmann - nhà hóa học đứng đầu danh sách 100 thiên tài vĩ đại nhất thế giới. 

Không chỉ thế, Albert Hofmann còn là tác giả của hơn 100 bài báo khoa học và nhiều cuốn sách, trong đó nổi bật nhất phải kể đến LSD: My Problem Child. Năm 2007, cùng với Tim Berners-Lee, ông đứng đầu danh sách 100 thiên tài vĩ đại nhất được công bố bởi tờ báo danh tiếng nước Anh - Telegraph. Bên cạnh đó, với quãng đời hơn 102 năm, ngoài là người tài giỏi, thông minh bậc nhất, Albert còn là thiên tài sống lâu nhất thế giới (tính đến thời điểm này). Bên cạnh đó, Viện Công nghệ Liên bang (ETH Zurich) Thụy Sĩ cũng từng tôn vinh Albert Hofmann vào năm 1969 cùng với Gustav Guanella - anh rể của ông.

Năm 1971, Hiệp hội dược phẩm của Thụy Điển (Sveriges Farmacevtförbund) trao cho Albert giải thưởng Scheele nhằm ca ngợi các thành tựu, nghiên cứu mà ông thực hiện được. Không gì thú vị hơn một nhà hóa học Albert Hofmann sinh ra và lớn lên tại Baden, Thụy Sĩ. Albert là anh cả trong một gia đình gồm 4 người con, với bố làm công nhân nhà máy - Adolf Hofmann và mẹ là Elisabeth Schenk. Do hoàn cảnh gia đình khá khó khăn nên cha đỡ đầu phải nhận trả toàn bộ chi phí cho việc học hành của Albert. Khi cha bị bệnh, ông đã làm thêm không ít công việc, bên cạnh niềm đam mê nghiên cứu khoa học của mình. 20 tuổi, thiên tài người Thụy Sĩ mới bắt đầu học chuyên ngành hóa học tại đại học Zurich và nhanh chóng hoàn thành vào năm 1929, sau ba năm. Thời điểm đó, mối quan tâm chính của ông là các thành phần hóa học có trong động vật và thực vật. Vì vậy, ông đã tiến hành nhiều nghiên cứu quan trọng về cấu trúc hóa học trong động vật có chứa chất chitin - nhờ đó, ông xuất sắc được đặc cách nhận bằng tiến sĩ vào mùa xuân năm 1929.

Trong hội nghị nhận thức thế giới diễn ra ở Heidelberg (Đức) năm 1996, Albert Hofmann đã có bài phát biểu hết sức sâu sắc và thể hiện rõ quyết tâm muốn theo đuổi sự nghiệp của một nhà hóa học. "Người ta thường hỏi chính mình cái gì là quan trọng nhất trong cuộc đời và lên kế hoạch cho nó. Quả thực, mọi quyết định đều không dễ dàng đối với tôi. Nghệ thuật cũng là thứ gì đó rất hấp dẫn. Song tôi lại đặc biệt thấy thiên nhiên kỳ diệu và cần được khám phá. Các câu hỏi có liên quan đến bản chất của bên ngoài, thế giới vật chất... đòi hỏi nhiều kiến thức, hiểu biết sâu sắc cũng như kinh nghiệm nghiên cứu... đã thôi thúc tôi. Tôi yêu khoa học và không thể không trở thành người đi khai phá thế giới ấy" - ông nói.

Vô tình phát minh ra ma túy

Sau khi học xong, Albert Hofmann trở thành nhân viên bộ phận dược phẩm hóa học của hãng dược Sandoz (hiện là một công ty con của Novartis) ở Basel (Thụy Sĩ) nhằm thỏa mãn sở thích khám phá những bí ẩn trong tự nhiên. Tại đây, Albert tiến hành nghiên cứu thuốc làm từ thực vật và nấm. Ngày 16/4/1943, khi quyết định xem xét lại một vài thí nghiệm từng làm trước đó 5 năm và thực hiện bóc tách một loại nấm trên cây lúa mì, đột nhiên thiên tài hóa học cảm thấy đầu óc chao đảo và tinh thần rơi vào trạng thái mơ màng. Tâm trí ông ngay lập tức xuất hiện những hình ảnh kỳ diệu, nhiều hình dạng màu sắc rực rỡ. Albert cho biết, ông nghi ngờ rằng mình đã hít phải hoặc tiếp xúc qua đầu ngón tay chất liên quan đến LSD-25. Nhờ đó, ông tiếp tục nghiên cứu và cho ra đời một chất mới mang tên LSD. Không những thế, ông đã thử nghiệm LSD trên chính mình (cố ý ăn 250 microgram) và nhanh chóng rơi vào trạng thái điên rồ, mất kiểm soát và không biết mình đang làm gì.

Thiên tài sinh năm 1906 nhận ra LSD chính là một chất có tác dụng hủy hoại thần kinh. Tuy nhiên, ông vẫn phát triển nó với hy vọng loại chất này sẽ có những đóng góp quan trọng trong lĩnh vực y học, đặc biệt là lĩnh vực tâm thần học. Ngày nay, LSD được biết đến như một loại thuốc có tác dụng cực mạnh, gây ảo giác và làm thay đổi tâm trạng của con người. LSD không mùi, không vị và không màu. Trái với niềm mong mỏi của Albert Hofmann, LSD chủ yếu bị lạm dụng như ma túy, gây ảnh hướng xấu đến toàn xã hội và bị cấm sử dụng tại nhiều quốc gia. Cũng chính vì vậy, ngoài việc được ca ngợi như một thiên tài, Albert còn được gọi là tác giả của phát minh ác độc nhất thế giới. Chuyên nghiên cứu các loại thuốc gây ảo giác Sau LSD, Albert Hofmann phát hiện ra 4-axetoxy-DET - cũng là một loại thuốc gây ảo giác. Ông lần đầu tiên tổng hợp 4-axetoxy-DET vào năm 1958 tại phòng thí nghiệm Sandoz. Nhờ đó, thiên tài hóa học trở thành giám đốc bộ phận dược phẩm tại đây và tiếp tục nghiên cứu các chất gây ảo giác từ nấm Mexico. Ngay sau đó, psilocybin được biết đến như một loại "nấm ma thuật" ra đời. Ngoài ra, Albert cũng bắt đầu quan tâm đến hạt giống của các loài rau muống Mexico (hay người bản xứ vẫn thường gọi là ololiuhqui). Ông đã từng rất ngạc nhiên khi tìm thấy những hợp chất lysergic axit amide (LSA) hoạt động trong ololiuhqui có liên quan chặt chẽ đến LSD.

Phát minh vĩ đại nhất của Albert Hofmann là LSD, tuy nhiên cũng vì nó mà ông bị không ít điều tiếng. 

Năm 1962, ông và vợ Anita Hofmann née Guanella đi du lịch đến miền nam Mexico để tìm kiếm cây Ska Maria Pastora. Mặc dù đã lấy mẫu song ông vẫn chưa bao giờ thành công trong việc xác định các hợp chất hoạt động của nó. Năm 1963, Albert Hofmann tham dự hội nghị hàng năm Viện Hàn lâm Nghệ thuật và Khoa học (WAAS) tại Stockholm (Thụy Điển).

Thất vọng vì LSD bị cấm trên toàn thế giới Những năm cuối đời, trong bài phỏng vấn báo chí, Albert Hofmann từng tỏ ra rất thất vọng khi LSD - loại thuốc được ông gọi là "thuốc dành cho tâm hồn" bị cấm sử dụng trên toàn thế giới. Thiên tài thông minh bậc nhất thế giới cho biết, nếu ai đó dùng LSD với liều lượng quá cao (trên 500 microgram) mà không có sự giám sát của bác sĩ, đương nhiên sẽ có ảnh hưởng mạnh mẽ đến thần kinh, gây nguy hiểm.

Mặc dù vậy, "LSD đã có thể thành công trong lĩnh vực tâm thần học nhưng tiếc rằng mọi người lại lạm dụng nó" - ông nói. Năm 2007, các cơ quan y tế tại Thụy Sĩ đã cho phép bác sĩ tâm lý Peter Gasser thực hiện các thí nghiệm với những bệnh nhân bị ung thư giai đoạn cuối và các bệnh nguy hiểm khác sử dụng LSD. Qua nhiều nghiên cứu, đến năm 2011, các nhà khoa học đều thấy rằng LSD đặc biệt có hiệu quả đối với ý thức và cơ thể của bệnh nhân. Đầu năm 2008, Albert đã viết thư cho Steve Jobs, yêu cầu ông hỗ trợ nghiên cứu này. Từ đó, Hiệp hội Nghiên cứu Psychedelic (MAPS) bắt đầu sử dụng LSD trong điều trị tâm lý cũng như thiêt lập nền tảng tiến hành các nghiên cứu khác trong tương lai.

Chủ Nhật, 28 tháng 9, 2014

Vụ trộm thánh giá rúng động lịch sử thế giới

Năm 1975, cây thánh giá Tucker nặng 22 carat vàng đã "bốc hơi" không để lại dấu vết trên đường vận chuyển đến Bảo tàng Nghệ thuật Bermuda.

Người tìm ra cây thánh giá Tucker cực giá trị trên là Edward Bolton Tucker. Chính vì vậy, tên của ông được đặt cho cây thánh giá nặng 22 carat vàng và gắn ngọc lục bảo. Ông Edward là thợ lặn biển nổi tiếng, thường thám hiểm những con tàu đắm dưới biển từ cuối năm 1940.


Ông Edward đã phát hiện hơn 100 xác tàu đắm ​​xung quanh Bermuda. Trong đó, ông phát hiện con tàu đắm chở châu báu San Pedro có chứa nhiều tài sản hết sức giá trị như vàng bạc, châu báu, đặc biệt là cây thánh giá trên hồi năm 1955. Con tàu này bị đắm năm 1594 ở ngoài bờ biển San Pedro, Mỹ.


Vụ trộm cây thánh giá Tucker cho đến nay vẫn nằm trong màn đen bí ẩn.

Sau đó, ông Edward đã đem bán cây thánh giá Tucker cho chính phủ Bermuda với số tiền mà cho đến nay chưa từng được tiết lộ với công chúng.

Năm 1975, thánh giá Tucker được chuyển tới Bảo tàng Nghệ thuật Bermuda để triển lãm vào đúng dịp Nữ hoàng Elizabeth II ghé thăm nơi đây. Tuy nhiên, trong quá trình vận chuyển đến bảo tàng Nghệ thuật Bermuda, cây thánh giá cực giá trị trên đã biến mất không để lại một dấu vết nào.


Cơ quan chức năng không điều tra được kẻ nào đã ăn trộm báu vật, thời điểm xảy ra vụ trộm cũng như làm cách nào mà hung thủ có thể đánh tráo cây thánh giá thật bằng thánh giá giả. Một số người suy đoán rằng, cây thánh giá Tucker đã bị tên trộm tháo hết ngọc lục bảo và đem bán ở thị trường chợ đen. Cho đến nay, vụ trộm cây thánh giá Tucker vẫn chưa được làm sáng tỏ và vụ án trở thành một trong những vụ trộm nổi tiếng thế giới.

Thứ Năm, 25 tháng 9, 2014

Chuyện kỳ bí của tứ đại mỹ nhân Sài Gòn xưa

Số là trong cơn cuồng phong của chuyện bùa tình, một hôm bỗng xảy ra chuyện lạ lùng mà cả lão Franchini và cô Tư Nhị đều là nạn nhân.

Những đồng tiền mà các con thiêu thân kia càng đổ vào bay theo bụi mù của vó ngựa trường đua nhiều chừng nào thì cái giờ phút lão Franchini thoát cơn hoạn nạn nhanh chừng nấy. Đó là lý do khiến cho lão bỏ qua cái tánh ghen động trời của lão để mặc sức cho Tư Nhị tung hoành. Nhưng bên cạnh các chiêu trò đấu đá giữa Tư Nhị và Franchini qua bàn tay của các thầy bùa đã đến hồi khiến cho họ mất kiểm soát. Số là trong cơn cuồng phong của chuyện bùa tình, một hôm bỗng xảy ra một chuyện lạ lùng mà cả hai nhân vật chính là lão Franchini và cô Tư Nhị đều là nạn nhân!


Hình ảnh mỹ nhân Sài Gòn xưa. 

Đầu tiên là Franchini. Hôm đó là ngày giữa tuần lão ta đích thân lái xe hơi lên Bà Điểm là nơi lão lập chuồng nuôi ngựa để quan sát những chú ngựa chiến của mình thì bỗng lão phát hiện ra bốn trong số mười hai con chiến mã mà vào cuối tuần đó sẽ dẫn đầu các độ đua như dự tính, bỗng dưng bỏ ăn và nguy hiểm hơn nữa là có hai con chẳng những bỏ ăn thôi, chúng còn có biểu hiện què cả hai chân! Điều này chưa từng xảy ra trong bầy ngựa của lão Franchini. Bởi vậy lão gọi những nài ngựa và hai chuyên gia nuôi ngựa của mình tới để hỏi nguyên do thì những người này kể là chẳng hiểu sao đêm hôm trước đó lúc bầy ngựa đang ngủ trong chuồng thì bỗng chúng phát lên những tiếng hí lạ lùng như có ai đó đang siết cổ chúng vậy.

Những người nuôi ngựa chạy ra xem thì thấy bốn con ngựa đứng phía bên ngoài gần cửa ra vào mắt long lanh, cất cao vó như muốn nhảy ra khỏi chuồng và hầu hết đều tỏ ra như sợ hãi trước một đe dọa nào đó. Khó khăn lắm họ mới khiến cho lũ ngựa an tâm trở lại, nhưng lập tức sau đó thì cả bốn con ngựa đều ngã quỵ tại chỗ, để rồi chúng như bị ngất đi đến cả buổi trời.

Nghe kể thì lão Franchini hoang mang vô cùng, lão liên lạc với một vài người quen của lão ở nước ngoài, những người có kinh nghiệm về nuôi ngựa giống thì những người này cũng vô cùng hoang mang, bảo phải chờ họ sang tận nơi xem lại mới có thể kết luận được. Nhưng làm sao chờ cho được, vì cuối tuần đó cả bốn con ngựa này đều phải có mặt tại trường đua để tham dự bốn độ đua gọi là "độ hội", có nghĩa là bốn cuộc đua quan trọng nhất trong tuần nên không thể nào thay thế ngựa khác được.

Bởi vậy lão Franchini lo lắng vô cùng nên đích thân lão chạy về Sài Gòn để rước hai bác sĩ thú y thuộc loại giỏi nhất lên để chữa trị cho bốn con ngựa chiến. Cũng may là chỉ sau một ngày thì cả bốn con ngựa đều khỏi bệnh. Lão Franchini mừng lắm nên dặn các người làm công cho mình phải đặc biệt theo dõi và chăm sóc kỹ bầy ngựa với sự cố vấn của hai bác sĩ thú ý. Cuối cùng thì mọi việc cũng êm xuôi, tuy nhiên hai người thợ chăm sóc ngựa có gốc gác ở xứ chùa tháp phát hiện ra có một điều bất thường, mà chỉ riêng họ mới nhận thấy nên dè dặt chưa báo cho chủ mình biết. Mãi cho tới chiều trước buổi đua ngày hôm sau thì họ mới đích thân chạy về Sài Gòn báo cho lão Franchini điều bất thường mà họ phát hiện ra.


Theo hai người này thì những con ngựa hầu như khỏe mạnh bình thường nhưng chỉ riêng những con mắt của chúng thì có cái gì đó hơi lạ lùng, mà theo họ thì cứ thỉnh thoảng cách năm mười phút thì từ trong những con mắt của bốn con ngựa như phát ra những tia sáng kỳ lạ, mà theo họ thì điều ấy như nói lên sự bất thường nào đó! Nghe vậy thì ngay đêm đó dẫu đang có cái hẹn với Tư Nhị trong một cuộc mây mưa ở một khách sạn loại sang trọng, nhưng lão Franchini cũng ngồi xe cùng với hai tay đàn em để lên tận chuồng ngựa ở Bà Điểm xem xét tình hình. Lạ lùng là khi những con ngựa ấy nhìn thấy lão thì chúng vội nhắm nghiền đôi mắt lại, rồi quay nhanh đi nơi khác như muốn tránh không nhìn lão. Nhận ra điều bất thường ấy nên lão Franchini ở lại đó cho đến sáng ngày hôm sau để theo dõi xem có điều gì bất thường khác nữa xảy ra hay không.

Thứ Tư, 24 tháng 9, 2014

Bí ẩn đáng sợ về những chiếc quan tài... ăn thịt người

Những thi thể bị bỏ vào quách sẽ phân hủy hoàn toàn chỉ trong vòng 40 ngày, mặc dù thông thường phải mất đến hàng năm.

Assos là một trong những thị trấn cổ xưa nhất tại tỉnh Çanakkale, phía Tây Bắc của Thổ Nhĩ kỳ. Thị trấn này được thành lập vào khoảng thế kỷ 10 trước Công nguyên (TCN) do những người di cư Aeolian từ Lesbos.

Thế nhưng người ta biết nhiều về Assos không phải bởi những câu chuyện lịch sử hơn 3.000 năm của nó, mà là vì một bí ẩn đáng sợ: những chiếc quách “ăn thịt người” hiện vẫn còn nằm nguyên trong khu nghĩa địa cổ nơi đây.

Nghĩa địa cổ nằm vắt ngang qua thị trấn, kéo dài từ Đông sang Tây. Hiện nay mới chỉ có khu vực nằm bên ngoài cổng thành cổ phía Tây là đã được khai quật và nghiên cứu, mà đã hé lộ ra rất nhiều điều kỳ bí.

Những chiếc quách đá được khai quật tại khu nghĩa địa cổ ở Assos có niên đại từ khoảng thể kỷ 5 TCN. 


Dấu tích mai táng lâu đời nhất được tìm thấy trong nghĩa địa là những chiếc “quan tài” bằng đất sét có niên đại từ giữa thế kỷ 7 TCN. Chúng được đặt trong các huyệt mộ với phần miệng hướng về phía Đông và được đậy kín bằng một hòn đá lớn.

Những chiếc quách có niên đại vào khoảng thế kỷ thứ 5 TCN là những hiện vật bí ẩn và gây nhiều tranh cãi nhất. Ban đầu chúng chỉ là những cỗ quan tài đơn giản được tạc từ đá mắc-ma (andesite) với các bề mặt phẳng phiu.

Kích thước phổ biến của những chiếc quách này vào khoảng 2 mét chiều dài, chiều rộng và chiều cao tương đương nhau chừng 80-90 cm. Trọng lượng của mỗi chiếc đạt 3 tấn.


Hiện thị trấn cổ nhỏ bé này thu hút rất nhiều khách tham quan nhờ danh tiếng của những chiếc quách “ăn thịt” đầy bí ẩn. 


Bắt đầu từ thời kỳ La Mã, những chiếc quách được trang trí công phu hơn với nhiều hình chạm khắc ở xung quanh, đặc biệt là có thêm một hàng chữ được tạc dọc theo thân quách để viết tên và một số thông tin về vị chủ nhân bên trong.

Đáng chú ý và cũng là đặc điểm kỳ lạ nhất, đó là những chiếc quách này có khả năng phân hủy bất cứ thi hài nào được đặt vào bên trong chúng với một khoảng thời gian kỷ lục. Người ta đã ghi nhận rằng một cơ thể người trưởng thành chỉ mất chừng 40 ngày để biến mất hoàn toàn, mặc dù bình thường sẽ cần đến nhiều tháng, thậm chí hàng năm.

Cư dân Assos cũng đã biết đến điều kỳ lạ của những chiếc quách này từ rất sớm, bằng chứng là họ gọi chúng với cái tên đáng sợ “Sarko fagos” trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là quách “ăn thịt”, đúng như những gì diễn ra với cái xác được an táng bên trong.

Những nhà khoa học thì đã bỏ rất nhiều thời gian công sức để cố gắng tìm hiểu nguyên nhân của hiện tượng đáng sợ bên trong quách đá.

Người ta cho rằng xác chết được táng vào trong quách chỉ mất 40 ngày để biến mất hoàn toàn. 


Một số nghiên cứu cho rằng trong các ngôi mộ có chứa nhiều vật liệu nhôm, và đó chính là nguyên nhân làm đẩy nhanh quá trình phân hủy xác. Họ đoán rằng có thể những cư dân Assos cổ đại thấy rằng nhôm có thể đốt cháy da nên bỏ thêm vật liệu này vào bên trong quách để giúp cho xác nhanh phân hủy.

Tuy nhiên hiện tất cả vẫn chỉ là đồn đoán, giới khoa học vẫn gần như mù tịt về nguyên nhân của hiện tượng bí ẩn có một không hai này. Rất nhiều người hiện đang tiếp tục bỏ công sức ra nghiên cứu nhằm đưa ra lời giải đáp.

Giới chức địa phương thì nhanh chóng nhận ra cơ hội để biến thị trấn nhỏ bé của mình thành một địa điểm tham quan thu hút những người tò mò từ khắp nơi trên thế giới. Còn những chiếc quách đáng sợ, chúng vẫn im lìm như thách thức trí tuệ của con người.

Thứ Ba, 23 tháng 9, 2014

Bí mật nguồn gốc gia tộc lừng danh nhất Trung Quốc

Trong lịch sử cận đại, không gia đình nào có thể khuynh đảo lịch sử quốc gia và đời sống của hàng trăm triệu người như gia đình họ Tống.

Trên một nửa thế kỷ, những người trong gia đình này đã dùng mọi thủ đoạn để độc chiếm quyền lực chính trị và tài chính của Trung Hoa và đã thu thập được những tài sản khổng lồ, lớn nhất thời đại. Tuy nhiên, hiện nay nhiều nhà sử học cho rằng, Tống Khánh Linh cũng như những chị em còn lại của bà thực chất không phải mang họ Tống.

Gia tộc họ Tống không phải... họ Tống!


Nếu Tống Gia Thụ - cha của Tống Khánh Linh không có ba cô con gái thì cuối cùng gia đình nhà họ Tống sẽ không được giàu sang quyền quý đến thế. Nhưng Tống Gia Thụ sinh được ba cô con gái rất quý tướng. Đúng ra Tống Gia Thụ có sáu người con, ba trai và ba gái. Nhưng chính ba cô con gái này đã trở thành những nhân vật xuất chúng trên chính trường Trung Hoa, vì kết hôn với những lãnh tụ lớn của Trung Hoa. Ba chị em nhà họ Tống đã tạo được một sự nghiệp chính trị hiển hách và những sản nghiệp vĩ đại cho nhà họ Tống.


Ba chị em nhà họ Tống cùng với Tưởng Giới Thạch: Ngoài cùng bên trái là Tống Khánh Linh, Tống Ái Linh và bên phải là Tống Mỹ Linh. 

Trong số ba người con gái của Tống Gia Thụ, chỉ có bà Tống Khánh Linh tạo được một địa vị cao quý trong lịch sử và tâm hồn người Trung Hoa. Bà được cả những người cộng sản và Quốc dân đảng kính trọng. Tống Khánh Linh kết hôn với Tôn Dật Tiên - nhà đại cách mạng Trung Hoa của đầu thế kỷ 20. Trong lịch sử Trung Hoa có hai cuộc cách mạng quan trọng nhất, đã thay đổi hoàn toàn cơ cấu của xã hội và nhà nước. Cuộc cách mạng thứ nhất là của Tần Thủy Hoàng năm 221 trước Công nguyên, đã chấm dứt kỷ nguyên phong kiến, và thiết lập chế độ quân chủ tập quyền chuyên chế. Cuộc cách mạng thứ hai chính là của Tôn Dật Tiên năm 1911, còn được gọi là cuộc Cách Mạng Tân Hợi. Cuộc Cách Mạng Tân Hợi đã lật đổ sự thống trị của vua chúa, và dẫn tới việc thành lập chế độ dân chủ.

Tuy nhiên, theo lịch sử ghi lại thì Tống Gia Thụ- cha của Tống Khánh Linh thực chất không mang họ Tống. Khi còn niên thiếu, Tống Gia Thụ qua được Hoa Kỳ, sống dưới sự che chở của giáo hội Methodist vào khoảng cuối thế kỷ 19. Thực chất ông vốn mang họ Hàn, được sinh trưởng trong một gia đình trung lưu tại đảo Hải Nam- Trung Quốc. Nhưng khi sang Hoa Kỳ, ông đã đổi tên thành Tống Charlie (Charlie Jones Soong) cho hợp với cách gọi của Hoa kiều khi đó. Trở về Trung Quốc khi đã trưởng thành, Tống Charlie lấy tên là Tống Gia Thụ, và tạo được một sản nghiệp bề thế bằng nghề in và bán sách Thánh kinh. Tống Gia Thụ khi đó cũng đã bí mật tham gia phong trào cách mạng của Tôn Dật Tiên, chống lại triều đình Mãn Thanh.

Tháng 4/1987, tại huyện Văn Xương, tỉnh Quảng Đông đã xuất bản một cuốn sách mang tên: Những kỷ niệm với đồng chí Tống Khánh Linh có ghi: "Người cha của đồng chí Tống Khánh Linh thực chất mang họ Hàn, tên gốc là Hàn Giáo Chuẩn, tên tiếng Anh là Charlie Jones Soong, còn có tên khác là Tống Gia Thụ và Tống Diệu Như. Ông Hàn Giáo Chuẩn là con trai thứ hai của gia đình Hàn Hồng Vũ, người thôn Cổ Lộ Viên, thuộc huyện Văn Xương, tỉnh Hải Nam".

Trong cuốn sách này đã nói rõ thân thế và nguồn gốc của ông Tống Gia Thụ- cha của Tống Khánh Linh. Quả thực Tống Gia Thụ không phải mang họ Tống mà là họ Hàn. Ngoài ra tư liệu này còn ghi rõ: "Gia đình họ Hàn tại huyện Văn Xương cũng chỉ là người di cư từ nơi khác đến, không có gốc gác chính tại nơi đây. Theo gia phả ghi chép lại, tổ tiên của họ Hàn đến từ huyện Tương Châu, tỉnh Hà Nam. Vào đời Nam Tống (1126 - 1279) một số bộ lạc vùng Trung Á đã xâm lược và lấn chiếm đất đai tại vùng này, khi đó một người họ Hàn tên Hàn Hiển Liễu được bổ nhiệm làm thái thú tại huyện Văn Xương nên đã đưa cả gia đình và họ hàng đến vùng đất này. Gia tộc họ Hàn bắt đầu định cư lâu dài tại Văn Xương từ đó".

Cũng theo ghi chép, cụ của Tống Khánh Linh làm quan cho triều đình. Cụ nội của bà tên Hàn Cẩm Di, sinh được 2 người con trai. Con trai cả tên Hàn Hồng Vũ (tức ông nội của Tống Khánh Linh) và người con thứ hai tên Hàn Bằng Vũ. Hàn Hồng Vũ sau này cũng sinh được 3 người con trai lần lượt là: Chính Chuẩn, Giáo Chuẩn (tức cha của Tống Khánh Linh) và Chi Chuẩn.

Trong ghi chép của một người em họ tên là Hàn Tục Phong, con chú của Tống Khánh Linh cho biết: "Tất cả phần mộ của gia đình họ Hàn hiện nay đều nằm ở Văn Xương, khu mộ này có một tên chung là "Hàn gia chi mộ". Phía tay phải của khu mộ là một loạt những cái tên: Chính Chuẩn, Giáo Chuẩn và Chi Chuẩn. Nằm phía trước của ba ngôi mộ này là ông nội Hàn Hồng Vũ. Vì thế ngôi mộ mang tên Giáo Chuẩn chính là nơi yên nghỉ cuối cùng của Tống Gia Thụ- cha của Tống Khánh Linh".

Vì sao Tống Gia Thụ phải đổi họ?

Theo hồi ức của những người họ Hàn đang sinh sống tại huyện Văn Xương, tỉnh Hải Nam, Hàn Giáo Chuẩn đổi tên thành Tống Gia Thụ cũng có nguyên nhân sâu xa.


Ba chị em họ Tống.

Người cha của Tống Gia Thụ là một nông dân chăm chỉ, vào những lúc nông nhàn, ông thường đi làm phu khuân vác tại các bến cảng kiếm thêm để nuôi vợ con. Tuy nhiên, cuộc sống khi đó lại vô cùng vất vả và gian khổ. Năm 1871, khi Hàn Giáo Chuẩn vừa tròn 13 tuổi, ông đã cùng người anh trai Chính Chuẩn phiêu bạt đến phía đông của Ấn Độ để học về truyền giáo. Sau đó, do có cơ may nên Tống Gia Thụ đã tiếp tục phiêu bạt đến Mỹ cũng để tiếp tục theo học truyền giáo. Tuy nhiên, ở một môi trường mới lại được tiếp xúc với những tôn giáo mới, ông đã từ bỏ Phật giáo để đến với Thiên chúa giáo. Sống dưới sự che chở của giáo hội Methodist vào khoảng cuối thế kỷ 19, Tống Gia Thụ đã theo học khoa thần học tại đại học Stewart thuộc bang Tennessee khi đó. Năm 1880, Tống Gia Thụ chính thức gia nhập Cơ đốc giáo, sau khi tốt nghiệp ông đã trở về nước với nhiệm vụ truyền giáo cho người dân Trung Quốc.

Còn nguyên nhân vì sao Tống Gia Thụ phải đổi họ thì nhiều nhà sử học cho rằng đó là một nước đi đặc biệt khôn ngoan. Trong thời gian còn ở độ tuổi thiếu niên Giáo Chuẩn vẫn đang theo học truyền giáo ở Ấn Độ, nhiều lần trở về quê hương nhưng ông đều không thấy vui vẻ. Một phần là do thấy hoàn cảnh gia đình vẫn nghèo nàn, người cha vẫn phải lao động cật lực nhưng vẫn không đủ ăn. Một lần về thăm gia đình, Giáo Chuẩn được gặp một ông cậu họ xa đã sinh sống lâu năm ở Mỹ cũng về thăm quê. Ông cậu này đang theo học tiến sỹ tại một trường Đại học bang thuộc Massachusett, đồng thời còn mở một nhà hàng buôn bán rất phát đạt bên đó. Sau khi tiếp xúc với Giáo Chuẩn, nhận thấy đây là một chàng trai nhanh nhẹn, thông minh, ông đã ngỏ ý mời Giáo Chuẩn sang cùng làm nhà hàng với ông.


Đây quả là một cơ may "có một không hai" đối với chàng trai trẻ. Giáo Chuẩn lập tức nhận lời và cùng sang Mỹ với người cậu họ xa này. Khi đến Mỹ, để tỏ lòng biết ơn, Giáo Chuẩn đã đổi họ Hàn của mình sang họ Tống- họ của người cậu và cũng là ân nhân nâng đỡ cuộc đời ông sau này.

Nhiều nhà sử học đánh giá, có thể vì chính sự "cải họ" của Tống Gia Thụ mà cuộc đời cũng như sự nghiệp của ông đã có một bước rẽ hoàn toàn mới. Nếu như Hàn Giáo Chuẩn không đổi họ và theo chân người cậu sang Mỹ rất có thể lịch sử Trung Quốc đã rẽ sang một trang khác.



Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia thì ba chị em nhà họ Tống là ba người phụ nữ có chồng là những nhân vật chính trị nổi bật của Trung Quốc đầu thế kỷ 20.

Tống Ái Linh (1890-1973) là chị cả, kết hôn với Bộ trưởng tài chính và cũng là người giàu nhất Trung Quốc, Khổng Tường Hi.

Tống Khánh Linh (1893-1981) kết hôn với Tổng thống đầu tiên của Trung Hoa Dân Quốc - Tôn Dật Tiên. Sau này bà trở thành Phó Chủ tịch nước Cộng Hòa nhân dân Trung Hoa. Ngày 16 tháng 5 năm 1981, hai tuần trước khi mất, bà đã được kết nạp vào Đảng Cộng sản Trung Quốc và đã được ban danh hiệu Chủ tịch danh dự nước Cộng Hòa Nhân dân Trung Hoa. Bà là người duy nhất được ban danh hiệu này.

Tống Mỹ Linh (1897-2003) trẻ nhất trong ba chị em, bà đã kết hôn với Tổng thống Trung Hoa Dân Quốc Tưởng Giới Thạch. Các con trai của gia đình họ Tống đều là các quan chức cao cấp trong chính phủ Trung Hoa Dân quốc, một trong ba người nổi tiếng là Tống Tử Văn.

Thứ Năm, 18 tháng 9, 2014

Giải mật dự án của FBI đối phó với Liên Xô

Giám đốc đầu tiên của FBI đã đề xuất thực hiện một chương trình có mật mã “chậu giặt” nhằm đối phó với Liên Xô.

Một tài liệu mật mới được phát hiện gần đây cho thấy trong thập niên 50, Cục Điều tra Liên bang Mỹ (FBI) đã đầu tư tuyển dụng và đào tạo nhiều công dân bang Alaska trở trành đặc vụ mật tại địa phương nhằm đối phó với viễn cảnh Liên Xô đưa quân đội tới đây.

Trong những năm đầu của Chiến tranh Lạnh, quân đội Mỹ luôn lo lắng về khả năng Liên Xô đưa quân đội đến Alaska. Vì vậy vào năm 1951, John Edgar Hoover, Giám đốc đầu tiên của FBI đã đề xuất thực hiện một chương trình có mật mã “chậu giặt”, đây là dự án tuyển lựa và đào tạo một hệ thống đặc vụ mật là công dân Alaska.

Một góc Alaska. Ảnh: Reuters. 


Theo tài liệu bị rò rỉ, các đặc vụ mật Alaska được tuyển chọn từ nhiều ngành nghề đa dạng như ngư dân, thợ săn, phi công... Điều kỳ lạ là những người thổ dân bản địa như người Eskimo và Aleut, lại không được tuyển dụng bởi theo các quan chức FBI họ là "những người không được trung thành". Bên cạnh đó, trong tài liệu cũng đề cập đến việc không tuyển dụng phụ nữ, tuy nhiên không hề đưa ra lý do chi tiết.

Sau khi được tuyển dụng, các đặc vụ mật người Alaska sẽ được nhận khoản tiền lương hậu hĩnh 3.000 USD/năm (tương đương 30.000 USD hiện nay) và được hứa hẹn sẽ tăng gấp đôi nếu chiến tranh xảy ra.

Tiếp đó, các đặc vụ mới được tuyển sẽ tham gia các khóa học nhảy dù, kỹ năng đánh giáp lá cà, du kích, thẩm vấn, trinh sát, kỹ năng sinh tồn và giải mật mã. Tuy nhiên việc học tất cả các kỹ năng trong thời gian ngắn dường như không đem lại nhiều kết quả, việc này đã được ghi nhận trong tài liệu.

John Edgar Hoover. Ảnh: AFP. 

Ngoài ra, các đặc vụ được đào tạo riêng biệt, sau đó hoạt động trong tổ chức được gọi là “tế bào” bao gồm một lãnh đạo, một nhóm đặc vụ được lãnh đạo tuyển dụng và các đặc vụ cấp dưới chưa từng được tiếp xúc với lãnh đạo.


Các đặc vụ mật được giao nhiệm vụ hoạt động trong những các boongke với thực phẩm, quần áo ấm, radio và phương tiện giải mật mã để báo cáo lại các động thái của “quân thù”.

Tuy được khởi xướng bởi FBI tuy nhiên vào tháng 9/1951 chương trình sau này lại thuộc điều hành của Cơ quan điều tra đặc biệt của không quân Mỹ (OSI) và trở thành dự án lâu dài nhất trong chiến tranh lạnh của cơ quan này. Lý do của việc chuyển giao này do Hoover lo lắng FBI sẽ đảm nhận khiển trách khi chiến tranh xảy ra.

Hãng tin AP dẫn nguồn từ Deborah Kidwell, nhà sử học của OSI cho biết chương trình "chậu giặt" này kéo dài từ năm 1951 đến 1959, trong thời gian này, đã có 89 đặc vụ Alaska mật được đào tạo. Tuy nhiên chương trình được hình thành từ sự lo sợ này dường như đã trở thành một "sản phẩm phí phạm" của Mỹ bắt nguồn từ Chiến tranh Lạnh bởi Liên Xô không hề đưa quân đội đến Alaska.

Thứ Hai, 15 tháng 9, 2014

Sự thật gây sốc nhà tiên tri “đoán mệnh qua chỉ tay”

Louis Hamon có biệt hiệu Cheiro, nổi tiếng với việc đoán mệnh qua chỉ tay cho nhiều nhân vật quyền lực thế giới, trong đó có Sa hoàng Nicholas II.

Louis Hamon sinh ở Ireland vào năm 1866. Cha của ông là người Anh, mẹ là người Pháp. Khi chưa đến 20 tuổi, Louis Hamon bỏ quê hương sang thành phố Mumbai (Ấn Độ). Tại đây, ông học thêm khoa chỉ tay của đạo sĩ Bà La Môn và được huấn luyện học tập 3 năm với một đạo sĩ Guru. Sau đó, ông rời Ấn Độ rồi đến Ai Cập.

Vào năm 24 tuổi, Louis Hamon trở về London, ông bắt đầu hành nghề xem chỉ tay, tiên tri tương lai và được nhiều người biết đến. Tới năm 27 tuổi, ông đã nghiên cứu được hơn 6.000 bàn tay và tiên đoán tương lai cho nhiều nhân vật nổi tiếng, có "máu mặt" trong xã hội.


Louis Hamon nổi tiếng với biệt tài xem bói chỉ tay vô cùng chính xác.

Vào những năm 1890, danh tiếng của Louis Hamon nổi như cồn. Ông đã xuất bản một cuốn sách về xem chỉ tay thành công. Một trong những lần xem bói, dự đoán chính xác nổi tiếng của Louis Hamon đó là xem chỉ tay cho Bộ trưởng Quốc phòng Lord Kitchener. Khi xem chỉ tay cho nhà lãnh đạo này, Louis Hamon tiên đoán 20 năm sau (tức năm 1916), Bộ trưởng Quốc phòng Kitchener sẽ qua đời khi đi lại bằng đường thủy.
Thực tế đã chứng minh tiên đoán của Louis Hamon hoàn toàn chính xác. Mặc dù đã được khuyến cáo không nên đi tàu thuyền vào năm 1916 nhưng do có chuyến hành trình gặp Sa Hoàng Nicholas II trong thời gian diễn ra Chiến tranh thế giới 1 nên Bộ trưởng Quốc phòng Kitchener đã lên chiến hạm Hampshire để sang Nga. Tai nạn ập đến khi chiến hạm chở ông Kitchener trúng mìn của Đức và bị chìm xuống đáy biển. Bộ trưởng Quốc phòng Kitchener đã qua đời trùng hợp với tiên đoán của Louis Hamon.

Nhà văn Mark Twain cũng được Louis Hamon xem chỉ tay và tiên đoán về tương lai của ông. Cụ thể, vào năm 1895, Chiero nói với Mark Twain (khi đó 60 tuổi) rằng nhà văn sẽ bất ngờ kiếm được rất nhiều tiền vào năm 68 tuổi. Tại thời điểm ấy, Mark Twain đang bị phá sản và nợ nần chồng chất. Ông đã nợ hơn 90.000 USD. Chính vì vậy, khi nghe Chiero tiên đoán về tương lai tươi sáng của mình, ông không mấy tin tưởng. Tuy nhiên, đến tháng 11/1903, Mark Twain đã ký được hợp đồng lớn với nhà xuất bản Harper. Với bản hợp đồng này, nhà văn đã trả được các khoản nợ và kiếm được hơn 100.000 USD/năm.

Năm 1900, Chiero đã xem chỉ tay của vua Iran (Ba Tư) và tiên đoán ông hoàng này sẽ bị ám sát. Nhờ vậy, ông được tặng thưởng huân chương cao quý của Iran (Ba Tư) vì đã tiên đoán trước là sẽ có kẻ ám sát nhà vua tại Hội chợ quốc tế Paris.


Năm 1911, Chiero cũng tiên đoán về số phận của nhà văn, nhà xuất bản nổi tiếng William Stead. Theo đó, ông khuyên nhà văn William không nên đi lại bằng tàu thủy vào tháng 4/1912. Mặc dù đã được cảnh báo nhưng ông William không tin điều đó nên đã quyết định đặt vé lên tàu Titanic. Kết quả là tàu Titanic chìm do đâm vào tảng băng trôi ngày 14/4/1912.

Cheiro còn có cơ hội diện kiến Sa hoàng Nicholas II và xem chỉ tay cho nhà vua. Khi đó, ông đã tiên đoán năm 1917 là năm đại họa cho sa hoàng Nga và cả gia tộc hoàng gia.

Năm 1904, Cheiro được Sa hoàng Nicholas II tiếp đón trọng thị tại lâu đài Mùa Hạ ở thành phố St.Petersburg và có cơ hội gặp Grigori Rasputin - kẻ được cho là đã buông lời nguyền khiến hoàng gia Nga diệt vong. Tại đây, ông tiên đoán Rasputin sẽ bị hạ độc, bị đâm và bị bắn trước khi bị ném xuống dòng sông băng lạnh lẽo Neva.

Thứ Sáu, 12 tháng 9, 2014

Bí mật hàng hải lớn nhất của Australia

Người Australia nói đây là bí mật hàng hải lớn nhất của họ và hải quân Australia đã đặt nhiệm vụ phải tìm ra lời giải.

AE1 - chiếc tàu ngầm đầu tiên của Australia - đã biến mất một cách bí ẩn ngoài khơi New Guinea khoảng 100 năm trước. Ngay cả nhà thám hiểm huyền thoại Jacques Cousteau cũng phải “bó tay” với ca khó này. Chiếc tàu ngầm là một phần trong hoạt động quân sự lần đầu tiên của Australia khi New Guinea Đức (vùng phía Bắc rơi vào tay Đức năm 1884) bị thâu tóm.

AE1 và AE2 đều là niềm tự hào của Hải quân Australia. Với công nghệ tối tân, chúng được đặt làm tại Portsmouth ở Anh và sau đó được đưa về Sydney qua kênh đào Suez, với hành trình dài 42.000km, một kỷ lục thế giới cho tàu ngầm lúc bấy giờ.

Hai chiếc tàu ngầm về tới Sydney vào tháng 5/1914, sau đó nhập vào Lực lượng viễn chinh quân đội và hải quân Australia. Trong khi việc chiếm đóng được phần đất do Đức nắm giữ ở New Guinea và Nam Thái Bình Dương là một thành công thì việc AE1 cùng 3 sỹ quan và 32 thủy thủ mất tích lại là một thảm kịch chiến tranh đầu tiên của Australia.

Tàu ngầm AE1 neo đậu tại Balmain sau khi đi từ Portsmouth, năm 1914.

AE1 được tàu HMAS Parramatta nhìn thấy lần cuối cùng ở vị trí cách khoảng 1,5 hải lý về phía Đông Nam Berard Point trên đảo Duke of York. Một vài con tàu đã được điều động đến tìm kiếm AE1, song không phát hiện ra bất kỳ dấu vết nào. Tất nhiên, một loạt giả thuyết về nguyên nhân tàu ngầm AE1 mất tích đã được nêu ra, trong đó có khả năng tàu này bị một tàu chạy bằng hơi nước của Đức va phải.



Hiện các sử gia Australia đang muốn tìm ra lời giải cho bí mật này. Để chuẩn bị cho lễ kỷ niệm lần thứ 100 trận chiến đầu tiên của Australia trong Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, người ta đã đến hòn đảo xa xôi Duke of York, nơi tàu ngầm EA1 lần cuối cùng được nhìn thấy, để tìm kiếm dấu vết của con tàu. Nhưng tất cả vẫn chìm trong yên lặng.

Thứ Năm, 11 tháng 9, 2014

Bí ẩn công phu đi ngàn dặm của thiền sư Nhật Bản

Nhà sư tiến hành chuyến đi kéo dài trong 7 năm, vượt quãng đường lớn hơn một vòng quanh trái đất, chỉ bằng đôi chân mang giầy cỏ.

Dưới chân ngọn núi Hiei hiểm trở phía Đông Bắc cố đô Kyoto, ngày nay vẫn còn tồn tại một ngôi đền thiêng 1.200 tuổi được gọi là Enryakuji. Các vị thiền sư theo trường phái Tendai-shu (Phái Thiên Thai - một dòng tu thuộc Phật Giáo Đại Thừa), từ xa xưa đã nổi tiếng là những bậc “thần hành” với khả năng đi bộ đến hàng ngàn dặm.

Những kỳ tích công phu của họ không phải chỉ là lời đồn mà đã từng nhiều lần được kiểm chứng và ghi chép trong lịch sử. Nó khiến cho ngay cả những vận động viên marathon Olymlic hàng đầu ngày nay cũng phải ngả mũ chào thua.

Tendai-shu vừa là một trường phái tu hành, lại vừa giống như là một “công phu” huyền bí được các bậc cao tăng nơi đây lưu truyền đời này sang đời khác.

Không phải mọi nhà sư tại đền Enryakuji đều có thể tu tập Tendai-shu, chỉ một số ít người sau khi lựa chọn cẩn thận mới được cho phép tham gia vào “khóa học” gọi là Sennichi Kaihogyo, hay “Thử thách một ngàn ngày” kỳ bí.

Ngôi đền thiêng Enryakuji 1.200 tuổi trên đỉnh núi Hiei. 

Sennichi Kaihogyo xứng danh là một trong những thử thách nghiêm ngặt và khó khăn nhất thế giới, về cả thể chất lẫn tinh thần.

Những thử thách khắc nghiệt kéo dài liên tục trong vòng 7 năm. Người tham gia sẽ phải vượt qua quãng đường lớn hơn một vòng quanh trái đất, chỉ nhờ đôi chân cùng với đức tin.

Các nhà sư thực hiện cuộc hành trình cam go này với ý nghĩa là để tôn kính Fudo-myo-o, vị thần quan trọng nhất của trường phái Tendai (Thiên Thai). Nó giống như một cuộc hành hương với các điểm đến là những di tích linh thiêng rải rác khắp ngọn núi Hiei hùng vĩ.

Hành trình của các “Gyoja” (tên gọi những nhà sư tham gia thử thách) bao gồm hơn 250 điểm đến, phần lớn nằm giữa những vùng rừng núi thâm u. Tổng cộng quãng đường mà họ phải trải qua được ước tính dài gấp 1.000 lần cự li marathon tiêu chuẩn (cự li marathon tương đương 26 dặm hay 42 km).

Gyoja thường duy trì một tốc độ rất ổn định suốt cả chuyến đi. Họ không chạy, nhưng một người đi bộ bình thường sẽ không thể nào theo kịp. Đối với những nhà sư kỳ lạ này, đi bộ cũng chính là một phương pháp thiền định, chủ yếu dựa vào sự tập trung và sức mạnh tinh thần.

Tư thế khi đi cũng là một điều rất quan trọng. Nhà sư phải giữ cho lưng và hông của mình luôn luôn thẳng đứng. Họ di chuyển rất nhanh trong khi chiếc mũ trên đầu gần như bất động, ngay cả trên những đường dốc hoặc mấp mô.

Trong 3 năm đầu của cuộc hành trình, những nhà sư thường đi bộ khoảng 30-40km một ngày trong 100 ngày liên tục, bất kể thời tiết ra sao.

Đến năm thứ tư và thứ năm, quãng đường phải đi trong ngày dần tăng lên. Đồng thời mỗi khi gặp các địa điểm linh thiêng, họ đều phải dừng lại để tiến hành tụng niệm đầy đủ theo lễ nghi quy định.

Hình ảnh tái hiện một vị Gyoja đang trong cuộc hành trình

Có hơn 250 địa điểm linh thiêng trên đường đi mà các nhà sư bắt buộc phải tìm đến để làm lễ, trong đó bao gồm các thác nước, dòng suối, những cây cổ thụ, giếng thiêng, đền miếu hay đôi khi chỉ đơn giản là những tự tích trên vách đá.

Trang phục hành hương của các Gyoja cũng hết sức giản dị. Họ mặc một bộ đồ bằng vải thô, khoác bên ngoài chiếc áo choàng màu trắng, đầu đội mũ rơm truyền thống có tên gọi là renge-gasa, mang vớ tách ngón chân và một đôi giầy cỏ.

Mỗi Gyoja có thể đem theo một tiểu đồng, chủ yếu là để cầm đèn soi đường cho nhà sư khi di chuyển vào ban đêm. Vào những ngày mưa gió, họ có thể đi cho đến rách nát một đôi hài cỏ chỉ trong vòng một ngày.

Cuộc hành hương của các Gyoja quả thực là một thử thách hết sức đáng sợ, đến nỗi nó được mệnh danh là “chuyến đi địa ngục”.

Các nhà sư thường xuyên phải đối mặt với nhiều khó khăn, những vết thương mưng mủ không được chữa trị, hai bàn chân phồng rộp lở loét, thậm chí có thể bị nhiễm trùng thành các vết thương rất nặng…

Thế nhưng, không gì có thể ngăn cản được những bậc chân tu kỳ lạ này tiếp tục cất bước về phía mục tiêu cuộc đời của họ.

Vào năm thứ năm của cuộc hành trình, các Gyoja còn phải tiến hành một nghi thức chay tịnh đặc biệt, gọi là “do-iri”. Trong chín ngày liên tiếp, họ sẽ không ăn, không uống và không ngủ. Chỉ miệt mài tụng niệm một câu thần chú suốt ngày đêm.

Hai giờ sáng hàng đêm, họ sẽ ra ngoài lấy nước để dâng cúng. Khi đó nhà sư được phép hớp một ngụm nước, nhưng lại không được uống mà chỉ súc miệng rồi lại… nhổ ra! Lượng nước nhổ ra phải đảm bảo giống như lượng đã hớp vào(?!).


Bức ảnh hiếm hoi về một Gyoja thực thụ đang trên đường chinh phục “Thử thách một ngàn ngày”. 

Cho đến ngày thứ chín, Gyoja đã trở nên quá yếu nhưng phải dựa vào sự trợ giúp của người khác để tiếp tục lên đường. Quá trình nhịn ăn lâu ngày khiến cho cơ thể họ dường như đã cận kề cái chết.

Đây có thể coi là thử thách khổ hạnh nhất, mà người ta thường gọi là “đám tang sống” trong cuộc hành trình. Cách duy nhất để có thể vượt qua là hoàn toàn tin tưởng vào Fudo-myo-o hiển linh phù trợ!

Năm thứ sáu, các Gyoja thực hiện những chuyến đi 60km mỗi ngày, trong 100 ngày liên tiếp. Năm thứ bảy cũng tương tự, nhưng quãng đường đi tăng lên thành 84km mỗi ngày.


Giai đoạn cuối cùng của cuộc hành trình vẫn là thử thách đi bộ 100 ngày liên tiếp, nhưng quãng đường được rút ngắn xuống còn 30-40km mỗi ngày, cho đến khi về tới đích.

Cho đến ngày nay, chỉ có 50 nhà sư đã hoàn thành trọn vẹn “Thử thách một ngàn ngày”, kể từ khi truyền thống này được bắt đầu vào năm 1585. Rất nhiều người thậm chí đã chết trong cuộc hành trình đi tìm giác ngộ.

Một khi đã bắt đầu chuyến đi, nhà sư sẽ không được phép dừng lại vì bất cứ lý do gì. Các Gyoja thực sự mang theo một sợi dây thừng và một con dao nhỏ, chỉ có những thứ đó mới giúp họ kết thúc cuộc hành trình khi chưa tới được cái đích đặt ra.

Nhưng khi một Gyoja hoàn tất “Thử thách một ngàn ngày”, ngay lập tức ông sẽ trở thành “Dai-ajari”, một vị Bồ tát sống.

Một trong những Dai-ajari nổi tiếng nhất là Yusai Sakai, vị thiền sư sinh năm 1926 và mới chỉ viên tịch vào năm 2013. Yusai Sakai thậm chí còn thực hiện thành công “Thử thách một ngàn ngày” đến hai lần trong cuộc đời mình.

Trước khi trở thành tu sỹ, Sakai từng là một phi công phục vụ quân đội Nhật trong Thế Chiến II. Chính những ám ảnh về chiến tranh đã khiến ông quyết định đi tu và sau đó trở thành một Gyoja. Câu chuyện cuộc đời của ông đã trở thành cảm hứng cho rất nhiều cuốn sách.

“Thông điệp tôi muốn truyền đạt là, hãy sống mỗi ngày như thể đó là toàn bộ cuộc đời của bạn. Nếu bạn bắt đầu một điều gì đó hôm nay, thì hãy hoàn thành nó hôm nay. Ngày mai là một thế giới khác. Hãy sống một cách tích cực!”, ông răn dạy.

Các nhà sư “thần hành” trên đỉnh núi Hiei được coi là những anh hùng vĩ đại ở Nhật Bản. Rất nhiều người xem họ như là nhà lãnh đạo tinh thần.

Chỉ có điều là đã mấy chục năm nay vẫn chưa có một Gyoja thế hệ mới nào dám dấn thân vào con đường thử thách, để tiếp bước những vị chân tu tiền bối. Hy vọng rằng một trong những truyền thống tôn giáo kỳ bí và ấn tượng nhất trên thế giới này, rồi sẽ không bị lãng quên!

Thứ Tư, 10 tháng 9, 2014

Giải mật vụ đối đầu “nảy lửa” Liên Xô - Mỹ năm 1988

Vào 26 năm trước, Hải quân Mỹ đã cho tàu chiến xâm nhập hải phận Liên Xô ở biển Đen và đã phải nhận bài học đắt giá.

Vào ngày 12/2/1988, Hải quân Mỹ đã có hành động khiêu khích Liên Xô khi đi vào biển Đen và xâm nhập hải phận Liên Xô. Cụ thể, tàu tuần dương Yorktown và tàu khu trục Caron của Mỹ đã nhằm hướng bờ biển tiến sát vào vùng lãnh hải của Liên Xô. Khi đó, tàu tuần dương Yorktown có 387 sĩ quan và thủy thủ tàu, có 2 máy bay lên thẳng và được trang bị ngư lôi…


Trước khi đến hải phận Liên Xô, hai tàu trên của Mỹ đã dừng lại khoảng 30 phút, cách hải phận Liên Xô khoảng 100m. Liên Xô đã gửi cảnh báo cho hai tàu của Mỹ phía trước là hải phận của Liên Xô. Tuy nhiên, phía Mỹ trả lời rằng: "Chúng tôi sẽ không đổi hướng vì không vi phạm gì cả".

Tuy nhiên, sau đó, hai tàu của Mỹ đã xâm nhập hải phận của Liên Xô. Khi đã tiến vào hải phận, 2 tàu nhỏ của Liên Xô là SKR-6 và Bezzavetny đã được điều ra để ngăn chặn tàu Mỹ. Lực lượng Liên Xô làm nhiệm vụ tại vùng biển đó đã báo cáo về trụ sở chính rằng "Tàu tuần dương Yorktown và tàu khu trục Caron của Mỹ đã tiến vào hải phận của Liên Xô 2 dặm".


Tàu tuần dương Yorktown của Hải quân Mỹ xâm nhập hải phận Liên Xô năm 1988 và đã phải nhận bài học thích đáng.

Khi đó, phía Liên Xô và Mỹ đã có cuộc trao đổi với nhau. Liên Xô đã gửi đi cảnh báo tàu Mỹ đã xâm nhập hải phận nước này và phải rời đi. Tuy nhiên, phía Mỹ vẫn kiên quyết cho rằng không vi phạm hải phận và ở lại vùng biển đó.Sau đó, Liên Xô lại phát hiện các máy bay trực thăng chiến đấu của Mỹ chuẩn bị cất cánh nên đã gửi một bức điện khác tới chỉ huy tàu chiến Mỹ với nội dung Liên Xô sẽ bắn hạ máy bay của Mỹ vì xâm phạm không phận nước này. Khi đó, phía Mỹ không phản hồi lại.


Trước tình hình đó, chỉ huy tàu Bezzavetny là Vladimir Bogdashin đã ra quyết định cho tàu chiến của hải quân Mỹ một bài học. Tàu Bezzavetnyy được giao nhiệm vụ tiếp cận tàu tuần dương Yorktown, trong khi tàu SKR-86 tiếp cận tàu khu trục Caron. Sau đó, chỉ huy Bogdashin ra lệnh cho hai tàu Bezzavetny và SKR-86 lần lượt đâm mạnh vào hai tàu quân sự của Mỹ. Với hành động đó, tàu Bezzavetnyy đã leo lên boong chiếc tuần dương hạm của Mỹ một vài giây, gây cháy bên trong tàu, khiến phương tiện này hư hại nặng. Trong khi đó, tàu Caron của Mỹ cũng bị ảnh hưởng nhẹ hơn sau khi bị tàu SKR-86 "dạy cho một bài học".


Cuối cùng, tàu tuần dương Yorktown và tàu khu trục Caron của Mỹ đã phải rời khỏi hải phận của Liên Xô. Sau đó, Bộ Chỉ huy Hải quân Mỹ ở Washington đã ra lệnh cho hai tàu chiến của Mỹ rời khỏi biển Đen, kết thúc cuộc xung đột với Liên Xô.

Lời nguyền khủng khiếp của viên kim cương Orlov

Viên kim cương Orlov nổi tiếng mang theo lời nguyền khủng khiếp, gây ra những vụ tự sát bí ẩn.

Viên kim cương Orlov còn được biết đến với tên gọi “Đôi mắt của Brahma”, nặng tới 67,5 carat. Nó từng thuộc sở hữu của Catherine Đại đế.

Ban đầu, viên kim cương trên có trọng lượng 400 carat nhưng giảm xuống còn 189,62 carat sau khi được cắt bớt. Cuối cùng, nó chỉ còn 67,5 carat.


Viên kim cương Orlov được cho là mang theo lời nguyền khủng khiếp khi các chủ nhân đều tự sát.
Theo một số nguồn tin, Bá tước Grigory Orlov đã mua viên đá quý tại Amsterdam từ một thương gia Armenia (hoặc Ba Tư) để tặng cho Hoàng hậu Nga Catherine II vào ngày sinh nhật của bà.

Sau đó, Catherine Đại đế đã tặng cho Bá tước Grigory Orlov một cung điện tại St Petersburg. Đến cuối đời, bá tước Orlov chết trong sự cô độc và bị mất trí.

Tuy nhiên, một số người khác lại tin rằng, chính Catherine Đại đế đã mua viên kim cương Orlov bằng ngân sách quốc gia. Để tránh bị mọi người chỉ trích, vị hoàng hậu quyền lực của nước Nga đã dựng lên câu chuyện về Bá bước Grigory Orlov và đặt tên cho viên đá quý là Orlov.

Viên kim cương được tìm thấy tại một khu khai thác ở Ấn Độ vào đầu thế kỷ 19. Theo một số truyền thuyết, một tên trộm đã lấy cắp viên kim cương trên từ mắt của bức tượng thần Hindu. Kể từ đó, viên kim cương này bị vị thần Hindu buông lời nguyền khủng khiếp, khiến những chủ nhân sở hữu viên đá quý lần lượt gặp tai ương.

Truyền thuyết kể rằng, 3 người từng là chủ sở hữu viên kim cương Orlov đã tự tử.

Năm 1932, "Con mắt của Brahma" được một thương gia châu Âu tên là J.W. Paris mang đến Mỹ rồi đem bán.
Không lâu sau đó, tai họa ập đến với thương nhân đến từ châu Âu trên. Ngày 7/4/1932, người ta nhìn thấy ông J.W. Paris trèo lên nóc một tòa nhà chọc trời ở Mahattan rồi nhảy xuống tự sát, kết liễu cuộc đời.
Trước đó, công chúa Nga Nadia Vygin - Orlov đã sở hữu viên kim cương đen Orlov. Công chúa này cũng qua đời tại một tòa nhà ở Rome. Người ta cho rằng, công chúa Nadia đã tự sát.

Thứ Hai, 25 tháng 8, 2014

Sự thật về huyền thoại Yoga nổi tiếng bậc nhất Ấn Độ

Năm 2004, tạp chí Time của Mỹ xếp huyền thoại Yoga Ấn Độ BKS Iyengar trong danh sách 100 nhân vật quyền lực nhất thế giới.


Huyền thoại Yoga Ấn Độ BKS Iyengar vừa qua đời tại một bệnh viện ở thành phố Pune ngày 20/8, hưởng thọ 95 tuổi. Ông ra đi để lại sự tiếc thương và kính trọng không chỉ trong lòng người dân Ấn Độ, mà cả nhiều người trên thế giới, đặc biệt những người yêu thích Yoga.

Theo truyền thông Ấn Độ, BKS Iyengar là người sáng lập ra dòng yoga Iyengar và từng dạy cho nhiều nhân vật nổi tiếng, trong đó có chiến sĩ đấu tranh giành độc lập Ấn Độ Jayaprakash Narayan, diễn viên nổi tiếng của Mỹ Ali MacGraw, nghệ sĩ dương cầm Yehudi Menuhin.

Huyền thoại BKS Iyengar đang thực hành tại viện Yoga ở Pune ngày 19/11/2007. 

BKS Iyengar đã đi thực hành Yoga tại khoảng 70 quốc gia trên thế giới, biểu diễn tại tháp Eiffel (Paris) và từng biểu diễn cho Nữ hoàng Anh Elizabeth xem. Ông đã thành lập các học viện Yoga tại sáu châu lục trên thế giới, trong đó có một học viện tại thành phố Pune, nơi ông trút hơi thở cuối cùng. Năm 2004, tạp chí “Time” của Mỹ xếp BKS Iyengar trong danh sách 100 nhân vật quyền lực nhất thế giới; Trung Quốc đã phát hành riêng một bộ tem thư để vinh danh ông.

BKS Iyengar học Yoga từ năm 16 tuổi và cho đến tuổi 90 ông vẫn thực hành động tác “asanas” tức “trồng cây chuối” – động tác khó nhất trong Yoga. Chuyện kể rằng tuổi thơ của Iyengar rất cơ hàn. Ông sinh ra trong một gia đình nghèo tại một khu làng ở bang Karnataka trong thời kỳ dịch cúm hoành hành trên thế giới.

Phụ thân qua đời lúc Iyengar mới lên 9 tuổi, lại mắc bệnh lao, thương hàn và sốt rét nên thể trạng ông lúc đó rất yếu. Năm lên 16 tuổi, Iyengar bắt đầu phát hiện ra Yoga và luyện tập kiên trì sau 6 năm mới phục hồi sức khỏe. Cho đến khi phải nhập viện ngày 12/8 sau khi cảm thấy khó thở và tim đập nhanh vì bệnh thận, huyền thoại Iyengar hiếm khi bị ốm đau và ông thường tự điều chỉnh cơ thể mình mỗi khí có triệu chứng ốm, chứ không sử dụng các phương thuốc của y học hiện đại.

Trong một cuộc trả lời phỏng vấn báo chí năm 2005, Iyengar nói “Yoga đã cứu mạng sống của tôi. Lúc đầu tôi tập Yoga vì sức khỏe của mình và sau đó tôi coi nó như là sứ mạng của mình”. Trong một cuộc trả lời phỏng vấn khác vào năm 2002, ông tự hào nói rằng “Iyengar có nghĩa là Yoga," và "Yoga có nghĩa là Iyengar”, đây là hai từ đồng nghĩa.

Iyengar luôn coi Yoga là bộ môn "nghệ thuật và khoa học", khi thực hành phải tuân thủ kỷ luật và kiên trì, nếu thực hành hời hợt sẽ không mang lại hiệu quả.


Trả lời phỏng vấn hãng CNN năm 2007, huyền thoại Iyengar cho biết chuyến đi New York lần đầu tiên năm 1956, ông gặp phải sự chống đối của những người theo chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, vốn ít quan tâm đến Yoga. Chỉ đến năm 1961, khi bắt đầu sử dụng Yoga để chữa bệnh cho những học sinh ốm yếu thì “cơn bão Yoga” mới tràn vào phương Tây.

Iyengar viết nhiều sách về Yoga, trong đó có cuốn “Light on Yoga” được dịch ra 18 thứ tiếng và hiện được ứng dụng để phổ biến Yoga trên thế giới.

Chia sẻ trên mạng xã hội, Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi viết “Các thế hệ sẽ nhớ đến ngài BKS Iyengar như một Guru, một học giả tuyệt vời đã đưa Yoga vào cuộc sống của nhiều người trên thế giới”.

Chủ Nhật, 24 tháng 8, 2014

Top điệp viên kỳ tài trong lịch sử thế giới

Với tài ngụy trang giả gái tài tình, Thì Bội Phác đã làm điệp viên cho Trung Quốc, đánh lừa nhà ngoại giao Pháp trong 20 năm chung sống.'

Gián điệp đội lốt con gái, đánh lừa nhà ngoại giao Pháp 20 năm

Shi Pei Pu hay còn được biết đến với tên gọi Thì Bội Phác là một trong những gián điệp lừng danh Trung Quốc và thế giới. Mặc dù là đàn ông nhưng có nhiều thủ đoạn nên Thì Bội Phác đã đánh lừa hoàn hảo nhà ngoại giao Pháp Bernard Boursicot trong suốt 20 năm mà nạn nhân không hề hay biết.


Chân dung điệp viên siêu hạng của Trung Quốc Thì Bội Phác.

Thì Bội Phác ẩn thân dưới vỏ bọc một ca sĩ opera. Để giải thích lý do tại sao luôn mặc trang phục của nam giới, Thì Bội Phác biện minh rằng bản thân thật ra là "phận gái" nhưng mẹ thích cho mặc đồ con trai bởi gia đình đã có 2 con gái trong khi người bố Thì Bội Phác luôn ao ước sinh được mụn con trai. Sau đó, Thì Bội Phác còn đánh lừa nhà ngoại giao Pháp khi có với ông một người con. Tuy nhiên, đứa con này chỉ là đứa trẻ của một gia đình thuộc khu tự trị Duy Ngô Nhĩ được mẹ ruột bán đi vì do gia đình quá nghèo.

Thì Bội Phác đã khuyên Boursicot và giao nộp cho Trung Quốc 500 tài liệu mật trong suốt những năm 60 và 70. Đến năm 1983, vợ chồng Thì Bội Phác bị cơ quan chức trách Pháp bắt giữ vì tội làm gián điệp cho Trung Quốc. Sau khi phát hiện chân tướng tày trời về "người vợ" bấy lâu cùng chung sống, Boursicot xấu hổ và sốc đến mức từng định tự sát trong tù.

Nhà khoa học người Đức làm gián điệp cho Liên Xô

Nhà khoa học Klaus Fuchs người Đức tham gia dự án chế tạo bom nguyên tử Manhattan của Mỹ đã bị bắt giữ tại Anh vì tình nghi làm gián điệp cho Liên Xô ngày 10/2/1950. Ông tham gia dự án chế tạo bom nguyên tử đầu tiên trong thời gian diễn ra Chiến tranh thế giới 2.

Nhà khoa học Klaus Fuch bị kết tội làm gián điệp cho Liên Xô, khiến Albert Einstein cũng bị hoài nghi là điệp viên.

Sau khi bị bắt, Klaus Fuchs bị kết án 14 năm tù - mức án cao nhất trong khung hình phạt tội phạm gián điệp ở Anh. Do Klaus Fuchs được Albert Einstein giới thiệu vào làm việc tại dự án Manhattan nên chính quyền Mỹ hoài nghi thiên tài vật lý cũng là gián điệp cho Liên Xô.

Chính vì vậy, Giám đốc FBI John Edgar Hoover nghi ngờ Albert Einstein đã giúp đỡ Liên Xô trong sản xuất vũ khí nguyên tử nên đã cho người điều tra mọi động thái, theo dõi và thu thập thông tin về cuộc sống, công việc của nhà bác học này. Từ năm 1948 - 1952 là chuỗi ngày đen tối nhất đối với Albert Einstein. Ông đã bị FBI theo dõi sát sao, nhất cử nhất động của ông đều bị giám sát chặt chẽ.
Điệp viên không được đào tạo bài bản, bán tài liệu mật của Anh cho Hitler

Elyesa Bazna là điệp viên bí mật người Albania làm việc cho phát xít Đức trong Chiến tranh thế giới 2. Bazna được biết đến với mật danh Cicero - kẻ không được đào tạo trường lớp cơ bản nhưng lại thông thạo nhiều ngoại ngữ nên đã trở thành đầu mối cung cấp khá nhiều tài liệu tối mật cho phe phát xít trong suốt một khoảng thời gian dài.

Elyesa Bazna đã bán nhiều tài liệu mật của Anh cho phát xít Đức.

Cicero từng được tuyển vào làm người giúp việc cho đại sứ Yugoslav tại Thổ Nhĩ Kỳ, sau đó làm nhân viên cho một vài quan chức ngoại giao ở Ancara. Đầu năm 1943, điệp viên trên đã được đại sứ Anh tại Thổ Nhĩ Kỳ tuyển dụng. Kể từ đó, gián điệp này bí mật chuyển những tài liệu mật của chính quyền Anh cho phe phát xít. Ngay cả trùm phát xít Hitler cũng đánh giá cao những tài liệu mà Cicero mang về cho phe phát xít. Hitler còn yêu cầu mọi tài liệu, tin tức từ Cicero chuyển cho chính quyền Đức đều phải chuyển cho hắn xem đồng thời trả công hậu hĩnh cho Cicero.
Một trong những tài liệu mật quan trọng mà Cicero chuyển cho phía Đức có liên quan đến Chiến dịch Overlord nằm trong cuộc đổ bộ nổi tiếng Normandy năm 1944. Tuy nhiên, giới chức cấp cao Đức đã không kịp nhận những thông tin đó để lên kế hoạch phản công kịp thời do quy trình chuyển thông tin phức tạp dẫn đến phát xít Đức từng bước bị đẩy lùi.

Thứ Ba, 19 tháng 8, 2014

Tiết lộ những hành vi kỳ lạ của Tổng thống Richard Nixon

Nhà báo nổi tiếng Ronald Kessler đã tiết lộ những hành vi kỳ lạ của Tổng thống Richard Nixon như hoang tưởng, ăn bánh quy dành cho cún...

Những thông tin trên được Ronald Kessler tiết lộ trong cuốn sách mới xuất bản có tên "The First Family Detail: Secret Service Agents Reveal the Hidden Lives of the Presidents". Tác phẩm này do nhà nhà xuất bản danh tiếng Randon House ấn hành.

Ronald Kessler cũng dành nhiều trang viết về những tháng cuối cùng trên cương vị ông chủ Nhà Trắng của Tổng thống Nixon và vụ bê bối Watergate.

Nhân viên đặc vụ Mỹ đã đặt tên mã "Searchlight" dành cho Tổng thống thứ 37 của nước Mỹ. Tổng thống Nixon từng có thời gian ở căn nhà thứ 2 của ông có tên "Florida White House" ở Key Biscayne - một mảnh đất ở Miami. 

Tại đó, Tổng thống Nixon đi chơi với những người bạn thân Bebe Rebozo là một doanh nhân người Mỹ gốc Cuba và nhà phát minh Robert Abplanalpoff. Tổng thống Nixon đã ở đó và cho rằng không ai dòm ngó hoạt động riêng tư của ông. Tuy nhiên, sau này các nhân viên mật vụ đã tiết lộ những bí mật về ông chủ Nhà Trắng này.


Tổng thống Nixon không bao giờ mặc đồ bơi đi dạo biển.

Những nhân viên đặc vụ đã tiết lộ Tổng thống Nixon là một trong những Tổng thống Mỹ kỳ lạ. Ông đã vô cùng chán nản vào mọi lúc và càng cảm thấy buồn chán hơn khi vướng vào vụ bê bối nghe lén Watergate. Do đó, ông bị mắc chứng trầm cảm và hoang tưởng sâu sắc. Chính vì vậy, ông đắm chìm trong rượu và thường xuyên say xỉn.

"Tổng thống Nixon không biết có thể tin tưởng ai hay điều gì nên tin tưởng. Cuối cùng, ông cho rằng tất cả mọi người đều đang nói dối. Tổng thống Nixon đã đơn giản là mất khả năng kiểm soát bản thân và thậm chí đã bị nhìn thấy ăn bánh quy dành cho chó trong khi đang cho những chú cún cưng của ông ăn".

Một nhân viên mật vụ Mỹ còn tiết lộ Tổng thống Nixon đã ăn cả bánh quy dành cho chó. 

Ông Rebozo và Abplanalp đã ghé đến nhà của Tổng thống Nixon vào lúc 2h sáng trong tình trạng say xỉn kèm theo một "món quà". Khi đó, các nhân viên mật vụ đã nghe thấy tiếng ồn bên trong và nhìn thấy những điều kỳ lạ.

"Có một cô gái trẻ khỏa thân trong phòng. Cô gái đó có thân hình đẹp và đang cầm một chai rượu sâm banh. Bạn bè của Tổng thống Nixon muốn tặng món quà đó dành cho ông chủ Nhà Trắng. Tuy nhiên, nếu Tổng thống Nixon nhìn thấy các cô gái trẻ khỏa thân đó có thể ông sẽ bị một cơn đau tim. Ngài tổng thống vô cùng căng thẳng khi đi bộ 1 mình ở bãi biển Key Biscayne hay ở những nơi khác. Ông không bao giờ mặc một bộ đồ bơi khi đi dọc bãi biển. Ông ấy thường mặc bộ quần áo nghiêm chỉnh, đi giày rồi đi bộ dọc bãi biển", một nhân viên đặc vụ tiết lộ.

Tổng thống Nixon bộc lộ rõ con người thật của mình khi ở cùng những người bạn Bebe Rebozo và Bob Abplanalp và khi họ uống rượu cùng nhau.

Tổng thống Nixon không có năng khiếu thể thao nhưng rất thích cá. Ông thường đi cùng Bob Abplanalp trên chiếc du thuyền ra ngoài Grand Cay - một hòn đảo ở Bahamas và ung dung ngồi câu cá trên ghế.

Khi ở San Clemente, Tổng thống Nixon đi ra ngoài chơi golf từ thứ Hai đến thứ Sáu và chơi bất kể lúc trời đang mưa lớn hoặc mặt trời vừa ló rạng. Ông không quan tâm đến điều kiện thời tiết. 

Tổng thống Nixon đã chơi golf 9 lỗ với Pat và 2 con gái của họ nhưng đã thua cuộc. Ông không bao giờ nói bất cứ điều gì với bất cứ người nào khi chơi golf cho đến khi có được cú đánh bóng tốt.

Chủ Nhật, 17 tháng 8, 2014

Nỗi ám ảnh đại dịch khiến 50 triệu người tử vong

Gần 1/2 dân số thế giới nhiễm bệnh, số người chết ước tính lên đến 50 triệu, đó là những gì đại dịch cúm Tây Ban Nha gây ra.

Xuất hiện vào tháng 3/1918, sau đó lan nhanh qua nhiều quốc gia trên thế giới, dịch cúm mang tên Tây Ban Nha đã trở thành nỗi ám ảnh toàn cầu, kinh khủng hơn cả Chiến tranh thế giới 1.

Đại dịch cúm năm 1918 - tên thông thường là cúm Tây Ban Nha - là một đợt dịch truyền nhiễm lan rộng tới hầu hết mọi vùng trên thế giới.


Hình ảnh về các nạn nhân cúm năm 1918 được điều trị tập trung. 

Virus cúm A/H1N1 chính là nguyên nhân gây bệnh. Trong khi các dịch cúm khác thường tấn công những người cao tuổi, ốm yếu thì hầu hết nạn nhân của dịch cúm Tây Ban Nha là những người trẻ và khỏe mạnh.

Đợt cúm này kéo dài từ tháng 3/1918 đến tháng 6/1920, lan tới tận Bắc Cực và các hòn đảo xa xôi thuộc Thái Bình Dương.

Sở dĩ có nhiều tử vong là vì dịch cúm lần này rất mạnh. Khoảng 50% những người có tiếp xúc với người bị cúm bị lây bệnh và khi bị lây có triệu chứng rất trầm trọng.

Vì triệu chứng trầm trọng khác cúm thường nên lúc bấy giờ, người ta đoán bệnh sai lạc như bệnh sốt xuất huyết Dengue, kiết lỵ hay thương hàn tuy phần lớn tử vong là do các loại vi trùng bội nhiễm lúc bệnh nhân đang bị cúm, sức đề kháng bị suy giảm gây viêm phổi, một số viêm phổi do chính virut cúm gây tổn thương phổi rất trầm trọng.

Tự trang bị các vật dụng để tránh lây lan dịch cúm năm 1918. 

Theo ước tính, đại dịch cúm Tây Ban Nha vào năm 1918 tấn công gần 1 tỷ người - một nửa dân số thế giới lúc đó - vượt qua cả đại dịch "cái chết Đen" thời Trung Cổ.

Mặc dù dịch bệnh bắt nguồn từ Viễn Đông, song nó vẫn được gọi là cúm "Tây Ban Nha", do chính đất nước này đã đưa ra lời cảnh báo đầu tiên về sức tàn phá của nó. Người ta còn cho rằng, virus 1918 có thể đã góp phần đưa Đại chiến Thế giới đến hồi kết, do phần lớn quân lính hai phe bị chết vì cúm nhiều hơn vì vũ khí.

Theo các sử gia, Tổng thống Mỹ lúc đó là Woodrow Wilson đã phải sử dụng một liều thuốc chống cảm cúm khi ông đến Paris bàn thảo các điều khoản chi tiết của hiệp ước Versailles.

Và nếu như ông Wilson không bị bệnh cúm hành hạ thì các điều khoản của hiệp ước này không đến nổi quá khắt khe với phe thất trận như thế và nhân loại đã có thể tránh được Chiến tranh thế giới 2 sau này.

Thứ Năm, 14 tháng 8, 2014

Sự thực kinh hoàng về đại dịch Ebola đầu tiên trên TG

Do chưa biết đến virus Ebola cộng thêm sử dụng chung kim tiêm khiến đại dịch nguy hiểm này bùng phát và lan rộng ở Sudan và Congo năm 1976.

Vào ngày 27/7/1976, người đầu tiên nhiễm virus Ebola bắt đầu có một số triệu chứng. Mười ngày sau đó, người đàn ông xấu số này đã chết. Trong vài tháng tiếp theo, đại dịch Ebola đầu tiên trong lịch sử đã bùng phát ở Sudan và Zaire thuộc Cộng hòa dân chủ Congo. Theo ước tính, hơn 3.000 trường hợp nhiễm Ebola và hơn 2.000 cái chết kể từ năm 1976.

Nạn nhân đầu tiên nhiễm Ebola là một công nhân nhà máy bông ở Nzara, Sudan. Ngay sau khi người công nhân trên xuất hiện những triệu chứng bệnh và chết, một số người cùng làm việc trong nhà máy và vợ của họ cũng bắt đầu mắc bệnh. Sau đó, căn bệnh nguy hiểm bùng phát nhanh chóng ở thành phố Maridi, Sudan.

Do không ai trong lĩnh vực y tế từng gặp phải căn bệnh nguy hiểm này trước đây nên phải mất một thời gian để con người nhận ra rằng, đại dịch chết chóc này lây nhiễm từ động vật qua người hay từ người qua người khi tiếp xúc gần. Vào thời điểm bùng phát đại dịch Ebola ở Sudan, 284 người đã nhiễm bệnh, trong đó 151 bệnh nhân tử vong. Căn bệnh kinh hoàng này đã gây ra tỷ lệ tử vong lớn với 53% nạn nhân mất mạng khi nhiễm virus Ebola.



Đại dịch Ebola bùng phát lần đầu năm 1976 được cảnh báo là có tỷ lệ tử vong cao, khoảng 90% người nhiễm bệnh.

Đến ngày 1/9/1976, đại dịch Ebola bùng phát ở Congo. Nạn nhân đầu tiên của đợt dịch nguy hiểm này là một giáo viên 44 tuổi - người vừa trở về từ một chuyến du lịch ở miền Bắc Zaire.

Sau khi xuất hiện các triệu chứng giống như bệnh sốt rét, giáo viên 44 tuổi trên đã đi đến bệnh viện Yambuku Mission để khám và điều trị chống lại căn bệnh sốt rét. Thật không may, tại thời điểm đó bệnh viện trên không sử dụng kim tiêm dùng một lần cũng như không có biện pháp khử trùng đúng cách nên virus Ebola lây lan qua kim tiêm được sử dụng cho nhiều bệnh nhân điều trị tại bệnh viện.

Trong vòng 4 tuần, ổ dịch ngày càng mở rộng. Đại dịch Ebola chỉ có dấu hiệu tạm dừng lây nhiễm lại khi Bệnh viện Yambuku Mission bị đóng cửa do 11 trong số 17 nhân viên bệnh viện chết và các nạn nhân nhiễm bệnh Ebola còn lại bị cô lập.

Tại Congo, virus Ebola đã lây nhiễm cho 318 người, trong đó 280 bệnh nhân tử vong. Đại dịch nguy hiểm xảy ra ở Congo đã giết chết 88% nạn nhân.


Đại dịch Ebola bùng phát tại Sudan và Congo năm 1976 không phải là lần lây nhiễm bệnh cuối cùng. Nhiều dịch Ebola nhỏ lẻ đã xuất hiện từ năm 1976 và bùng phát mạnh trở lại ở Congo năm 1995, với 315 trường hợp nhiễm bệnh. Từ năm 2000 - 2001, Uganda ghi nhận 425 trường hợp nhiễm virus Ebola, Cộng hòa Congo có 264 trường hợp mắc đại dịch Ebola chỉ trong năm 2007.

Thứ Năm, 7 tháng 8, 2014

Bí ẩn những lời tiên tri sấm sét khi...ngủ gật

Edgar Cayce đã đưa ra nhiều tiên tri nổi tiếng thế giới trong đó đoán đúng cái chết của Tổng thống Franklin D. Roosevelt và Tổng thống John F Kennedy...

Edgar Cayce (1877 - 1945) được mệnh danh là “nhà tiên tri ngủ gật” nổi tiếng nhất thế kỷ XX xuất thân từ nước Mỹ. Ông không chỉ đưa ra những dự đoán rất chính xác về tương lai mà Cayce còn có khả năng chữa bệnh kỳ diệu. Những lần khám bệnh của ông đã hé mở các bí ẩn hết sức lạ lùng về số phận con người, như kiếp sống luân hồi và những quy luật nội tại ẩn chứa bên trong đó.

Sở dĩ Edgar Cayce được mọi người biết đến với biệt danh "nhà tiên tri ngủ gật" là do ông luôn đưa ra những lời tiên tri khi đang say giấc ngủ. Tuy nhiên, khi thức dậy, ông không bao giờ nhớ được những điều đã tiên tri trước đó của mình.

"Nhà tiên tri ngủ gật" Edgar Cayce đưa ra nhiều tiên đoán chính xác về biến động thế giới, trong đó có số mệnh của 2 Tổng thống Mỹ.

Trong suốt cuộc đời, “nhà tiên tri ngủ gật” đã đưa ra gần 15.000 lời tiên tri trong đó có vận mệnh của người đứng đầu nước Mỹ. Năm 1939, Edgar Cayce tiên đoán về cái chết của 2 tổng thống Mỹ. Khi đó, "nhà tiên tri ngủ gật" đã nói rằng: “Bạn bị rối loạn. Bạn bị phân chia giữa hai lằn ranh tư bản và lao động tại vùng đất của mình, trước khi bạn có vị Tổng thống thứ hai bị chết tại văn phòng của ông ta… một luật lệ đám đông. Trừ khi có phân phối công bằng, nếu không sẽ có biến động lớn trong vùng đất này".

Tổng thống John F. Kennedy qua đời trùng khớp với tiên đoán của Edgar Cayce. 

Theo đó, ông tiên đoán hai vị tổng thống Mỹ sẽ qua đời khi đang đương nhiệm. Lời tiên đoán của Edgar Cayce đã trở thành hiện thực khi Tổng thống Franklin D. Roosevelt chết trong văn phòng năm 1945. Tổng thống John F. Kennedy bị ám sát tại Dallas, Texas tháng 11/1963.

Edgar Cayce cũng tiên đoán về sự sụp đổ của Liên Xô và chế độ cộng sản. Theo đó, ông tiên đoán: “Thông qua Nga thế giới lại có hi vọng. Không có sự quan tâm trong thời kỳ chủ nghĩa Bolshevik. Tự do sẽ đến. Mỗi người lại được sống trong tình anh em. Công lý sẽ được sinh ra ở đây. Phải mất nhiều năm sự kết tinh mới trở lại”. Quả thực, Liên Xô đã sụp đổ vào năm 1991 như lời tiên đoán của "nhà tiên tri ngủ gật".


Edgar Cayce cũng tiên đoán về sự tan rã của Liên Xô.

Ngày 20/06/1943, Edgar Cayce đã đưa ra lời tiên đoán thời điểm bắt đầu và kết cục của cuộc Chiến tranh thế giới 2. 5 ngày sau khi đưa ra lời tiên tri, quân đội phát xít Đức và quân Nga đụng độ trong trận tăng thiết giáp lớn nhất thời đại.

Edgar Cayce cũng đưa ra dự đoán về việc thị trường chứng khoán sụp đổ và xảy ra cuộc đại khủng hoảng. Năm 1924, nhà tiên tri Cayce tiên đoán thị trường chứng khoán sẽ sụp đổ vào năm 1929. Ông còn tiên đoán thời điểm nào thị trường tăng điểm và chuẩn bị cho việc rời khỏi cuộc chơi chứng khoán đầy biến động vào năm 1929. Ông còn đưa ra danh sách các ngành công nghiệp sẽ tăng trưởng cao, hoặc mã số nào sẽ là mục tiêu đầu tư dài hạn, ổn định nhất. Tháng 10/1929, thị trường chứng khoán rơi vào khủng hoảng và chạm đáy chỉ sau vài ngày. Sự kiện này khiến nhiều nhà đầu tư chứng khoán rơi từ trên đỉnh cao xuống đáy vực chỉ sau 1 đêm.

Thêm vào đó, Edgar Cayce cũng đưa ra tiên đoán về Hitler, một số thời kỳ của Nhật Bản, Trung Quốc, liên minh giữa Mỹ và Nga cũng như đoán trước về cái chết của bản thân...

Thứ Sáu, 1 tháng 8, 2014

Lời tiên tri sấm sét về Chiến tranh lạnh

Robert Heinlein là một trong những nhà tiên tri nổi tiếng có thể dự đoán những biến động to lớn của thế giới trong đó có Chiến tranh lạnh.

Robert Heinlein (1907 - 1988) sinh trưởng trong một gia đình quân nhân và từng phục vụ trong hải quân Mỹ. Ông là một nhà văn khoa học viễn tưởng nổi tiếng của Mỹ thế kỷ 20, đã đưa ra nhiều lời tiên đoán về tình hình thế giới cũng như những sự biến động lớn về mối quan hệ của các nước.


Heinlein từng tiên đoán về tình hình nước Mỹ. Ông dự đoán Mỹ sẽ là quốc gia phát triển vũ khí nguyên tử và trở thành quốc gia đầu tiên sử dụng loại vũ khí chết chóc này. Trong khi các nước đang gồng mình khắc phục hậu quả chiến tranh, Mỹ sẽ từng bước vươn lên trở thành siêu cường thế giới và bước vào cuộc đua với những cường quốc khác chế tạo bom, vũ khí khủng. 

Đó là những tiên đoán khá chính xác về cuộc chạy đua phát triển vũ khí hạt nhân của các cường quốc. Và Chiến tranh lạnh đã xảy ra sau khi Mỹ thả bom nguyên tử xuống 2 thành phố Nhật Bản năm 1945. Những tiên đoán trên về Mỹ và Chiến tranh Lạnh đã được Heinlein tiên đoán trong cuốn sách “Solution” xuất bản năm 1940 - trước khi Mỹ tham gia Chiến tranh thế giói 2 cũng như chưa xuất hiện thông tin về vũ khí hạt nhân.


Nhà văn khoa học viễn tưởng tiêu biểu của thế kỷ 20 Robert Heinlein đã đưa ra nhiều tiên đoán khá chính xác về tình hình thế giới. 
Bên cạnh đó, Heinlein cũng tiên đoán Mỹ sẽ chắc chắn liên minh với Liên Xô và Chiến tranh thế giới 2 sẽ kết thúc bằng việc bom nguyên tử phát nổ.

Đến những năm 1960, Heinlein đưa ra tiên đoán về mối quan hệ giữa Mỹ và Trung Quốc sẽ tiến triển tốt đẹp hơn trong bối cảnh hiện tại 2 nước này đang vô cùng căng thẳng. Cụ thể, Heinlein tiên đoán Mỹ và Trung Quốc sẽ có quan hệ hữu hảo với nhau trong 20 năm tới.

Heinlein cũng đưa ra lời tiên đoán về nền kinh tế của Nhật Bản. Theo đó, ông dự đoán nền kinh tế Nhật Bản sẽ vươn lên mạnh mẽ vào đầu thế kỷ 20 và khu vực Đông Nam Á sẽ gặp nhiều biến động