Tổng số lượt xem trang

Thứ Ba, 18 tháng 11, 2014

Những sát nhân chưa một lần tìm ra tung tích

Sát nhân giết người theo bảng chữ cái và chọn địa điểm giết hại nạn nhân có chữ cái đầu trùng với chữ cái trong họ tên của họ...

Bible John



Phác thảo chân dung sát nhân Bible John.

Trong khoảng thời gian từ năm 1968 - 1969, 3 phụ nữ trẻ bị sát hại ở Glasgow, Scotland. Kẻ giết người đã gặp các nạn nhân tại Ballroom Barrowland và sau đó ra tay bóp cổ họ bằng tất của mình. Jean Puttock - chị gái của Helen Puttock, một trong số 3 nạn nhân, đã cung cấp cho cơ quan điều tra một số mô tả về hung thủ sau khi cô và em gái đi chung taxi. Theo lời khai của Jean, người đàn ông tự xưng là John Templeton. Ngày hôm sau, em gái của Jean là Helen bị giết hại và người đàn ông trên biến mất.


Nhiều người suy đoán, 3 vụ án mạng xảy ra tại Glasgow cuối thập niên 1960 không phải do một hung thủ gây ra. Khoảng cách 18 tháng giữa vụ đầu tiên và vụ thứ hai là dài bất thường đối với một kẻ giết người hàng loạt. Rất có thể hai vụ sau chỉ là bắt chước và cảnh sát đã có một kết luận vội vàng. Rốt cuộc, hơn 40 năm đã trôi qua và Bible John là ai vẫn là một câu hỏi làm đau đầu các nhà điều tra Scotland.

Sát nhân giết người theo bảng chữ cái


Ba cô gái trẻ bị sát nhân bí ẩn giết người theo bảng chữ cái.

Vào đầu những năm 1970, ba cô gái đã bị hung thủ hãm hiếp và bóp cổ đến chết tại Rochester, New York, Mỹ. Đây là một trong những vụ án bí ẩn nhất khi hung thủ ra tay sát hại nạn nhân có hai chữ cái đầu trong tên họ của mình như Carmen Colon, Wanda Walkowicz và Michelle Maenza.
Ngoài ra, điểm kỳ lạ lạ kỳ khác giữa các vụ án trên đó là mỗi nạn nhân bị giết hại tại một thị trấn có chữ cái đầu trùng với chữ cái trong tên họ của mỗi người như Carmen Colon bị giết ở Churchville; Wanda Walkowicz bị sát hại tại Webster và Michelle Maenza bị giết ở Macedon.

Vào cuối những năm 1970, 4 cô gái khác cũng bị giết hại và có những điểm tương đồng giống như trên. Nạn nhân là Roxene Roggasch, Pamela Parson, Tracy Tofolya. Cảnh sát đã tiến hành nhiều cuộc điều tra và bắt giữ nhiều kẻ tình nghi. Tuy nhiên, cho đến nay, cơ quan chức năng vẫn chưa tìm ra hung thủ.

Sát nhân ngày 2/9


Hai nạn nhân bị giết hại đúng ngày 2/9 nhưng khác năm. Cho đến nay, hung thủ vẫn chưa bị bắt.

Năm 2006, kẻ sát nhân đã tấn công và giết thai phụ Sonia Mejiat tại nhà riêng của nạn nhân ở Taylorsville, Salt Lake County, Utah khi cô ở một mình. Hung thủ đã lấy một vài đồ đạc giá trị trong nhà Sonia. Đến năm 2008, một phụ nữ khác có tên là Damiana Castillo cũng bị một kẻ lạ mặt bóp cổ chết ngay trong căn hộ của mình, cách hiện trường xảy ra vụ án của Sonia khoảng 2 km. 

Sau khi phân tích ADN từ các bằng chứng thu thập ở cả hai hiện trường, cảnh sát khẳng định, hung thủ 2 vụ giết người là một. Điều trùng hợp khác giữa hai vụ án là ngày xảy ra vụ án trùng nhau - ngày 2/9. Chính vì vậy, hung thủ được đặt tên là sát nhân ngày 2/9. Tuy nhiên, cho đến nay, giới chức trách vẫn chưa tìm ra hung thủ do chỉ tìm ra rất ít manh mối.

Thứ Hai, 17 tháng 11, 2014

Những vị tướng tồi tệ nhất trong lịch sử Quân đội Mỹ

Đánh giá quá cao quân địch hay đưa ra quyết định xa rời tình hình thực tế... khiến họ trở thành những nhà lãnh đạo quân sự tồi tệ.

Horatio Gates




Horatio Gates là một trong những vị tướng tài năng của quân đội Mỹ nhưng có cái tôi lớn và thường có nhiều tham vọng đối với mỗi cuộc chiến.

Horatio Gates từng làm việc trong quân đội Anh. Một trong những quyết sách sai lầm của ông xa rời với tình hình thực tế khi chỉ ngồi trong pháo đài chỉ huy là ở trận chiến Saratoga năm 1777.
Tuy nhiên, điều may mắn là cấp dưới của ông là Benedict Arnold và những người khác đã có quyết định đúng đắn và giúp quân đội Anh giành chiến thắng.


George McClellan



George McClellan được Tổng thống Lincoln và phe Liên minh tung hô là "phiên bản trẻ của Napoleon" và trông chờ những chiến tích xuất sắc của ông. Ông đã xây dựng quân đội Liên bang ngay từ thời gian đầu. 

Tuy nhiên, tướng McClellan đã quá thận trọng và luôn cảm thấy lực lượng phía mình yếu thế hơn phe miền Nam. Do đó, tướng McClellan đã di chuyển chậm chạp và không có nhiều cuộc tấn công nhắm vào quân địch theo ý kiến chỉ đạo của Tổng thống Lincoln. 

Đứng trước tình thế đó, Tổng thống Lincoln cho rằng nếu cứ để điều đó diễn ra thì quân đội sẽ gặp nhiều thương vong và thất bại trước tướng Robert E. Lee. Vì vậy, tướng Ulysses S. Grant được chỉ định thay thế vị trí chỉ huy của tướng McClellan.

William Henry Winder



William Henry Winder là một trong những vị tướng "bất tài" gây tranh cãi trong lịch sử Quân đội Mỹ, đặc biệt là trong cuộc chiến năm 1812. Ông liên tiếp bị quân địch đẩy lùi trong khi nắm trong tay một lực lượng hùng hậu. 

Chưa dừng lại ở đó, quân đội do tướng Winder dẫn dắt là lực lượng duy nhất có thể bảo vệ Washington trước cuộc tấn công của Anh vào tháng 7/1814. Tuy nhiên, một lần nữa vị lãnh đạo này lại không nỗ lực hết mình, thể hiện khả năng lãnh đạo yếu kém khiến Washington và cả Nhà Trắng bị quân đội Anh đánh chiếm.

Chủ Nhật, 16 tháng 11, 2014

5 lời nguyền ám ảnh nhân loại cả thế kỷ (1)

Lời nguyền kim cương xanh và lời nguyền lãnh chúa Tamerlane là 2 trong số 5 lời nguyền ám ảnh nhân loại suốt thập kỉ qua.

1. Lời nguyền "kim cương xanh"


Tháng 7/2012, Hoàng hậu Thái Lan Sirikit được người dân vô cùng yêu quý đã bị đột quỵ và không xuất hiện trước công chúng. Điều này sẽ không trở thành tâm điểm bàn tán của dư luận nếu như không xuất hiện những tin đồn về một lời nguyền kéo dài hàng thập kỷ trước đó.

Nguồn gốc của lời nguyền nghiệt ngã trên bắt đầu từ việc xảy ra một trong những vụ trộm nữ trang hoàng gia kinh hoàng nhất lịch sử.

Ảnh minh họa. 


Câu chuyện bắt đầu tại cung điện của gia đình hoàng gia Ả Rập Saudi năm 1989. Khi đó, một người gác cổng Thái đã đột nhập vào phòng Hoàng tử Faisal và lấy trộm đồ trang sức trị giá 20.000.000 USD.

Sau đó, người này đã tuồn chúng về Thái Lan bằng cách giấu đồ ăn cắp trong máy hút bụi. Trong số các món đồ trang sức có giá trị của hoàng tử Ả Rập Saudi bị đánh cắp có một viên đá quý 50 carat và được gọi là "kim cương xanh".

Nhà chức trách Saudi đã thông báo cho cảnh sát Thái Lan vụ việc và nhanh chóng bắt được tên trộm. Tuy nhiên, y đã kịp bán một số đồ trang sức đó trước khi bị cảnh sát tóm tại chợ đen. Số còn lại đã được cảnh sát Thái Lan hoàn trả cho gia đình hoàng gia Thái Lan.

Một nửa số trang sức được trả lại là hàng giả. Không những vậy, "kim cương xanh" vẫn biệt tích. Cảnh sát Thái Lan còn cho rằng, có thể viên đá quý đó không tồn tại. Điều đó khiến thông tin về vụ trộm cắp trang sức hoàng gia càng trở nên tồi tệ hơn.

Đối với một viên ngọc quý mà chưa bao giờ được chứng minh chắc chắn là tồn tại thì "kim cương xanh" gây ra nhiều vấn đề hơn là giá trị vật chất của nó. Nó được cho là bị ma ám. Lời nguyền về viên đá quý này đầu tiên xuất hiện vào tháng 2/1990.

Hoàng hậu Sikirit của Thái Lan.


Khi đó, 3 nhà ngoại giao Ả Rập Saudi (những người đã được giao nhiệm vụ điều tra các vụ trộm cắp đồ trang sức) đều bị giết hại trong cùng một đêm. Cảnh sát Thái Lan khẳng định rằng, không có bằng chứng nào cho thấy vụ giết người có liên quan đến viên đá quý có tên "kim cương xanh". Tuy nhiên, người Ả Rập Saudi nghĩ khác và nghi ngờ chính quyền đã che đậy vụ việc.

Những nghi ngờ của họ đã dấy lên khi báo chí địa phương đưa tin rằng, một vài phu nhân của những quan chức quyền lực nhất Thái Lan đã được nhìn thấy đeo đồ trang sức giống như viên đá quý mà hoàng gia Ả Rập Saudi bị mất.

Điều khá thú vị là người ta cáo buộc hoàng hậu Sirikit cũng từng xuất hiện với viên đá quý đó trước khi bị đột quỵ và không còn xuất hiện trước công chúng. Nhiều người tin rằng, Hoàng hậu Sirikit là nạn nhân mới nhất của lời nguyền "kim cương xanh".

2. Lời nguyền nghiệt ngã khiến hàng triệu người bị giết

Năm 1941, một nhóm các nhà nhân chủng học Xô Viết đã đến Uzbekistan để thực hiện chuyến thám hiểm đã được nhà nước phê chuẩn. Nhiệm vụ của họ là xác định vị trí ngôi mộ của Tamerlane và khai quật thi thể bên trong.


Lăng mộ Tamerlane. 


Tamerlane là một lãnh chúa nổi tiếng sống ở thế kỷ XIV và được xem là anh hùng dân tộc ở Uzbekistan. Trước bối cảnh đó, các giáo sĩ Hồi giáo địa phương đã không thể ngăn cản nỗ lực khai quật ngôi mộ lãnh chúa Tamerlane của nhóm chuyên gia Xô Viết. Tuy nhiên, họ cảnh báo rằng, nếu đánh thức giấc ngủ vĩnh hằng của lãnh chúa thì thảm họa sẽ ập đến vào ngày thứ ba.

Khi nghe điều đó, lãnh đạo nhóm thám hiểm Mikhail Gerasimov đã bỏ ngoài tai lời đe dọa đó và coi nó là điều mê tín dị đoan của người dân địa phương. Họ tiếp tục công việc khai quật thi thể lãnh chúaTamerlane và mở quan tài của ông vào ngày 19/6/1941.

Bên ngoài quan tài có viết một dòng chữ có nội dung: "Khi tôi từ cõi chết trở về, thế giới sẽ run sợ". Ba ngày sau, phát xít Đức đã bất ngờ phát động cuộc chiến Barbarossa và xâm lược Liên Xô. Đó có phải là điều trùng hợp ngẫu nhiên? Có lẽ vậy. Sự kiện này đã khiến thế giới phải rúng động.

Điều thú vị là khi cuộc chiến Đức - Xô bước vào giai đoạn bước ngoặt với chiến thắng của người Nga trong trận đánh Stalingrad, Stalin đã ra lệnh đem chôn cất thi hài lãnh chúa Tamerlane tại Uzbekistan theo nghi lễ chôn cất của người Hồi giáo.

Lời nguyền được cho là đã bị hủy bỏ kể từ đó nhưng vẫn để lại hậu quả nặng nề. Cụ thể, mặc dù Liên Xô cuối cùng giành chiến thắng trong cuộc chiến chống xâm lược của phát xít Đức nhưng 7,5 triệu người dân Liên Xô đã chết trong cuộc chiến khốc liệt đó.

Thứ Năm, 13 tháng 11, 2014

Giải mã hệ thống đường hầm bí mật bên dưới Nhà Trắng

Một hệ thống hầm ngầm tối mật được xây dựng bên dưới Nhà Trắng để tổng thống Mỹ có thể sử dụng chúng trong trường hợp khẩn cấp.


Lịch sử đường hầm phía dưới Nhà Trắng
Hệ thống đường hầm bên dưới Nhà Trắng, nơi sống và làm việc của tổng thống Mỹ, là một trong những công trình tối mật nhưng khơi gợi trí tò mò nhất hành tinh. Người ta biết tới sự tồn tại của nó nhưng hầu như không thể xác định chính xác quy mô của hệ thống hay tổng số những đường hầm được xây dựng.

Chúng là lối đi an toàn để ông chủ Nhà Trắng di chuyển tới nơi ẩn náu và làm việc trong trường hợp nước Mỹ đối mặt với thảm họa tồi tệ nhất, bao gồm cả cuộc tấn công hạt nhân từ kẻ thù. Theo Tuần báo National Journal, hệ thống đường hầm bí mật được xây dựng từ đầu những năm 1950 dưới thời Harry S. Truman, tổng thống thứ 33 của Mỹ. Việc xây dựng được tiến hành song song với quá trình tôn tạo Nhà Trắng vì nó đã xuống cấp sau nhiều năm sử dụng.

Trong thời gian sửa chữa, tổng thống Truman phải chuyển tới sống và làm việc ở một địa điểm khác trong ba năm. Nhà Trắng mới sở hữu những cột bê tông và dầm thép trong khi phía dưới nó là hệ thống hầm ngầm và boongke, nơi tổng thống và những người làm việc cho chính phủ ẩn náu an toàn trong trường hợp nguy cấp. Hệ thống hầm ngầm của Nhà Trắng ra đời trong thời kỳ đầu của kỷ nguyên Chiến tranh Lạnh.


Đường hầm dưới Nhà Trắng được xây dựng theo lệnh của Tổng thống Harry S. Truman. Ảnh: Truman Library.

Những hành lang bí mật

Kể từ khi ra đời, đường hầm phía dưới Nhà Trắng nhiều lần được tu sửa hoặc mở rộng. Dưới thời đương kim Tổng thống Mỹ Barack Obama, khu vực trú ẩn dành cho các quan chức cấp cao cũng được nâng cấp. Ban đầu, chính quyền muốn giữ bí mật quá trình xây dựng nên thông báo rằng họ đào xới để nâng cấp hệ thống điện, điều hòa, sưởi ấm và thiết bị báo cháy. Tuy nhiên, quy mô của các hoạt động xây dựng quá lớn khiến người ta nghi ngờ. Cuối cùng, một nguồn tin giấu tên cho biết người ta đang nâng cấp hệ thống hầm trú ẩn và các đường hầm phía dưới tòa nhà, New York Timesđưa tin.



Công trình xây dựng tại Nhà Trắng năm 2011. Ảnh: AP.

Người ta suy đoán, đường hầm bí mật dưới Nhà Trắng nằm sâu dưới đất, nối liền các cơ quan đầu não của Mỹ ở trong và ngoài thủ đô Washington D.C. Một trong những đường hầm nổi tiếng nhất dẫn tới Trung tâm Chiến dịch khẩn cấp của Tổng thống (PEOC), nơi Tổng thống George W. Bush đã gặp Hội đồng an ninh quốc gia ngay sau vụ khủng bố ngày 11/9/2001. Trước đó, Phó tổng thống Dick Cheney đã được đưa xuống hầm sau khi Tháp đôi Trung tâm thương mại thế giới và một phần Lầu Năm Góc bị tấn công khủng bố. Vào thời điểm đó, ông Bush đang có mặt trên chiếc chuyên cơ Air Force One.

Hệ thống tàu điện ngầm chuyên dụng


Người ta nói rằng, có một hệ thống điện ngầm hoạt động ở thủ đô Washington D.C. để phục vụ Tổng thống trong trường hợp khẩn cấp. Kế hoạch xây dựng đường tàu này được khởi động trong thập niên 1950, khi Chiến tranh Lạnh bắt đầu.

Hệ thống tàu điện ngầm nối liền đồi Capitol với Hạ viện và Thượng viện Mỹ. Ảnh: Wikipedia.

Hệ thống đường sắt được xây theo lệnh của Dwight D. Eisenhower, tổng thống thứ 34 của Mỹ. Một ủy ban bí mật được thành lập để xây dựng đường tàu điện ngầm đặc biệt song song với tuyến đường phục vụ dân sinh tấp nập thứ hai ở Mỹ sau hệ thống vận tải hành khách ở thành phố New York. Đường ngầm này nối liền Nhà Trắng với các tòa nhà công vụ bên cạnh bao gồm Đài quan sát Hải quân, một khách sạn gần Nhà Trắng, đồi Capitol, Lầu Năm Góc, Bộ Ngoại giao….

Theo kế hoạch dài hạn, người ta có thể nối dài đường hầm tới những khu vực xa hơn như Trại David hay trụ sở CIA. Ngoài ra, bên dưới thủ đô Washington D.C. còn có một hệ thống đường tàu điện ngầm đặc biệt. Nó nối liền đồi Capitol với Hạ viện và Thượng viện Mỹ. Hệ thống này được xây dựng năm 1909 để nối liền các cơ quan đầu não của chính phủ Mỹ trước khi được nâng cấp nhiều lần. Ngày nay, công chúng được phép tham quan và sử dụng hệ thống này với điều kiện mang đầy đủ giấy tờ và được nhân viên an ninh hộ tống. Tuy nhiên, trong thời điểm Mỹ tổ chức bầu cử lưỡng viện, hệ thống này chỉ phục vụ các nghị sĩ và nhân viên chính phủ.

Tình báo Liên Xô cài bẫy buộc Mỹ - Nhật khai chiến sớm

Ít ai biết rằng nhằm buộc Mỹ-Nhật sớm “choảng” nhau trong sự kiện Trân Châu Cảng, tình báo Liên Xô đã phải dày công cài bẫy.


Sau khi Nhật Bản tập kích Trân Châu Cảng, Chiến tranh Thái Bình Dương bùng nổ. Đa số dư luận cho rằng sự kiện Trân Châu Cảng là kết quả của mâu thuẫn không thể điều hoà giữa Mỹ và Nhật Bản. Nhưng ít ai biết rằng nhằm buộc Mỹ-Nhật sớm “choảng” nhau, tình báo Liên Xô đã phải dày công cài bẫy.

Sau khi Chiến tranh Thế giới lần thứ II nổ ra, Liên Xô nằm giữa hai gọng kìm: phía đông là Nhật Bản, phía tây là Đức. Nhằm tránh khả năng phải căng ra đối phó với phe Trục trên cả hai hướng, nhà lãnh đạo tối cao của Liên Xô lúc bấy giờ, Joseph Stalin, đã ra lệnh cho cơ quan tình báo nước này tìm biện pháp buộc Mỹ và Nhật Bản phải trực tiếp chĩa súng bắn vào nhau. Dưới sự chỉ đạo của ông trùm mật vụ Lavrenty P. Beria, tháng 10/1940, Kế hoạch Tuyết trắng ra đời. Sau khi Beria báo cáo, nhận được sự phê chuẩn của Stalin, cơ quan tình báo Liên Xô bắt đầu cho thực thi kế hoạch này.


Nguyên Ngoại trưởng Nhật Bản Yosuke Matsuoka.

Đầu năm 1941, tình báo viên Pavlov nhận lệnh lên đường đi Mỹ, bắt liên lạc với điệp viên cài cắm Henry White, lúc đó đã chui cao leo sâu trong chính quyền Mỹ, trở thành một trong những cố vấn kinh tế thân tín nhất và ảnh hưởng mạnh mẽ đối với những chính sách của Tổng thống Mỹ lúc bấy giờ, Franklin D. Roosevelt. White là một nhà kinh tế xuất chúng, có biệt tài biến những vấn đề phức tạp trong lĩnh vực chính sách tiền tệ trở thành đơn giản để giải thích cho những người không tinh thông về mặt học thuật, nên rất được Roosevelt trọng dụng. Trong cuộc tiếp xúc bí mật với White, Pavlov đã thông báo “khẩu dụ” của Stalin về những nội dung cơ bản của “bản công hàm tương lai” mà Oasinhtơn sẽ gửi Tôkyô, nhấn mạnh vào một số điểm chắc chắn sẽ không được Tôkyô chấp nhận như yêu cầu Nhật Bản lập tức rút quân khỏi Trung Quốc... Ngoài ra, Pavlov còn yêu cầu White tìm cách làm sâu sắc thêm những mâu thuẫn trong mối quan hệ giữa Mỹ và Nhật, buộc hai nước này phải sớm giải quyết bằng chiến tranh.

Tháng 7/1941, Nhật Bản tấn công nam Đông Nam Á, uy hiếp Philippin. Oasinhtơn ra lệnh cấm vận kinh tế và dầu mỏ đối với Tôkyô. Quan hệ giữa Tôkyô và Oasinhtơn xấu đi nhanh chóng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai kế hoạch Tuyết trắng. Đặc biệt, trước đó gần một tháng, Đức bất ngờ tấn công Liên Xô. Ngoại trưởng Nhật Bản khi đó là Yosuke Matsuoka nhanh chóng kiến nghị lên Nhật Hoàng Hirohito là phải lập tức khai chiến với Liên Xô. Ngay trong hai tháng 7 và 8/1941, quân Quan Đông của Nhật Bản đã tổ chức một diễn tập quy mô lớn, mà mục tiêu giả định chính là Hồng quân Liên Xô. Những thông tin tình báo từ nhiều kênh khác nhau cho thấy Nhật Bản có khả năng tấn công Liên Xô.

Tàu chiến Mỹ tại Trân Châu Cảng bốc cháy sau khi bị không quân Nhật Bản tập kích. 


Tình hình vô cùng nguy cấp, tình báo Liên Xô lại được lệnh liên lạc khẩn cấp với White, hối thúc điệp viên này nhanh chóng hành động. Tháng 10/1941, khi quân Đức áp sát Mátxcơva, căn cứ theo những nội dung do Palov cung cấp, White đã khởi thảo một bị vong lục để gửi cho phía Nhật Bản. Bị vong lục tuyên bố Mỹ chỉ thừa nhận chính phủ của Tưởng Giới Thạch, không thừa nhận chính quyền ngụỵ Mãn Châu (chính quyền bù nhìn ở Mãn Châu và phía đông Nội Mông, do các quan chức nhà Thanh cũ tạo ra với sự giúp đỡ của Nhật Bản vào năm 1932) và chính quyền ngụy của Uông Tinh Vệ ở Nam Kinh. Bị vong lục cũng yêu cầu Nhật Bản lập tức rút quân khỏi Trung Quốc, bán đảo Triều Tiên và Đông Dương cũng như rút khỏi hiệp ước đồng minh ba nước Đức-Ý-Nhật… Những yêu cầu này chủ yếu nằm trong nội dung “khẩu dụ” của Stalin. Tháng 11/1941, White lại khởi thảo một bị vong lục khác với lời lẽ cứng rắn hơn. Hai bị vong lục này sau khi được Tổng thống Mỹ Roosevelt thông qua, lần lượt được trao cho phía Nhật Bản dưới danh nghĩa của Quốc vụ khanh Cordell Hull, nên lịch sử gọi đó là Bị vong lục Hull.


Ngày 25/11/1941, Đại sứ Nhật Bản ở Mỹ và các đại biểu tham dự đàm phán Mỹ-Nhật nhận được Bị vong lục Hull từ tay White. Kết quả không nằm ngoài dự liệu của Mátxcơva. Nhật Bản một mặt lên tiếng phản đối, mặt khác theo chỉ thị của Nhật Hoàng triệu tập hội nghị trọng thần với sự tham gia của các nhân vật từng giữ chức vụ thủ tướng còn sống. Không có ai tham dự hội nghị này bày tỏ sự tán thành đối với Bị vong lục Hull, thậm chí có người còn nói nếu Nhật Bản chấp nhận những yêu cầu này trong Bị vong lục Hull sẽ trắng tay và bị hủy diệt, cho nên dù thế nào thì cũng phải khai chiến với Mỹ.

Ngày 7/12/1941, Nhật Bản bất ngờ tấn công Trân Châu Cảng. Sau khi Chiến tranh Thái Bình Dương bùng nổ, ngày 11/12/1941, Tổng cục tình báo Hồng quân Liên Xô đã báo cáo lên Stalin rằng Nhật Bản đã điều 2 sư đoàn bộ binh cùng 300 máy bay từ chiến trường Trung Quốc và 2 sư đoàn bộ binh cùng 250 máy bay từ Mãn Châu về phía nam. Cuối cùng, Stalin đã có thể yên tâm vì không phải căng ra đối phó với việc bị Nhật Bản tấn công từ phía đông, rảnh tay ra đòn phản công nhằm vào phát xít Đức ở mặt trận phía tây. Kế hoạch Tuyết trắng thành công mĩ mãn.

Thứ Ba, 11 tháng 11, 2014

Sự thật về Tổng thống kém cỏi trong lịch sử Mỹ

Tổng thống Franklin Pierce được đánh giá là một trong số ít ông chủ Nhà Trắng “kém cỏi” trong lịch sử Mỹ khi nghiện rượu, bị đảng bỏ rơi...

Năm 1852, Franklin Pierce được đảng Dân Chủ chọn làm người đại diện Đảng, tham dự cuộc chạy đua cam go vào Nhà Trắng với đối thủ nặng ký khác của đảng Cộng hòa. Trong cuộc đua vào Nhà Trắng, ông đã giành chiến thắng và trở thành Tổng thống thứ 14 trong lịch sử nước Mỹ.


Tuy nhiên, ít ai có thể biết được chuyện đau lòng mà Tổng thống Mỹ Franklin Pierce từng phải trải qua đó là việc chứng kiến người con duy nhất qua đời do tai nạn xe lửa vào hai tháng trước khi ông đắc cử Tổng thống. Sự kiện đau lòng này khiến vợ chồng Tổng thống Franklin vô cùng đau lòng. Chính vì vậy, sau khi vào Nhà Trắng, vợ của Tổng thống Franklin luôn buồn rầu và không màng tới tình hình bên ngoài.

Tổng thống Franklin Pierce là một trong số ít ông chủ Nhà Trắng “kém cỏi” trong lịch sử Mỹ và bị đảng của mình bỏ rơi.

Trong khi đó, tình hình Tổng thống Franklin cũng không mấy khả quan. Ông được đánh giá là không chuyên tâm hoàn thành tốt nhiệm vụ của ông chủ Nhà Trắng. Hầu hết các cuộc họp nội các của ông đều không đạt được kết quả khả quan. Thêm vào đó, ông còn có những quan điểm đi ngược lại với đảng Dân Chủ nên trở thành một trong số ít tổng thống bị đảng của mình bỏ rơi sau một nhiệm kỳ. Cụ thể, ông đã ủng hộ mạnh mẽ thỏa ước Missouri năm 1820, Đạo luật Nô lệ bỏ trốn năm 1850 và Đạo luật Kansas - Nebraska năm 1854. Những quyết định này đi ngược lại quan điểm, chủ trương của Đảng Dân Chủ.

Bên cạnh đó, Tổng thống thứ 14 còn có những quyết sách sai lầm, gây hấn với một số quốc gia, khiến uy tín của ông giảm sút đáng kể như muốn sáp nhập Cuba, phản đối việc công dân Anh định cư ở Trung Mỹ...


Chưa dừng lại ở đó, trong cuộc sống thường nhật, Tổng thống Franklin được mọi người miêu tả là người nghiện rượu nặng và mắc bệnh trầm cảm.

Tổng thống Franklin đã qua đời vào ngày 22/1/1868, khi 64 tuổi. Người ta cho rằng ông đã uống rượu quá nhiều dẫn đến tử vong. Khi qua đời, Tổng thống Franklin đã để lại tài sản trị giá 70.000 USD và người được thụ hưởng là những người thân và bạn bè của ông. Thi hài của ông chủ Nhà Trắng thứ 14 được chôn cất tại nghĩa trang ở Concord, tiểu bang New Hampshire.

Thứ Hai, 10 tháng 11, 2014

Toàn cảnh trận đánh xe tăng lớn nhất lịch sử nhân loại

6.000 xe tăng, 4.000 máy bay, 2 triệu binh lính được huy động trong trận Vòng cung Kursk, trận đánh xe tăng lớn nhất lịch sử nhân loại.

Kế hoạch táo bạo của Đức


Sau thất bại tại Stalingrad, mùa hè năm 1943, quân đội Đức quốc xã đã quyết định tổ chức một cuộc tấn công quy mô lớn vào khu vực vòng cung Kursk nhằm làm suy yếu tiềm năng của Liên Xô. Hitler cho rằng một chiến thắng ở đây sẽ khẳng định sức mạnh của Đức, nâng cao uy tín với các đồng minh đang muốn rút khỏi cuộc chiến. Để phục vụ cho trận đánh chiến lược quyết định này, quân đội Đức quốc xã đã huy động 22 sư đoàn bộ binh với tổng quân số 912.460 binh lính, 17 sư đoàn xe tăng, 2 sư đoàn bộ binh cơ giới với tổng số 2.982 xe tăng các loại trong đó có 800 chiếc Tiger - loại xe tăng chiến đấu chủ lực lừng danh của Đức, 9.966 khẩu pháo các loại, 2.110 máy bay chiến đấu. Lực lượng này chiếm đến 17% số sư đoàn bộ binh, 70% số sư đoàn xe tăng, 30% số sư đoàn cơ giới và 60% số máy bay của Đức trên mặt trận phía Đông. Hitler đã đặt mật danh cho chiến dịch này là Citadel.



Hitler đã huy động lực lượng chưa từng có trong chiến dịch Citadel nhằm tạo bước đột phá chiến lược trên mặt trận phía Đông. Ảnh lấy từ phối cảnh bộ phim Vòng cung lửa của đạo diễn Yuri Ozerov.

Ông chính là người đã khai sinh việc đặt mật danh cho các chiến dịch quân sự lớn về sau. Theo sắc lệnh số 6 do Hitler phát hành, tập đoàn quân Trung tâm do Thống chế Günther von Kluge chỉ huy phối hợp cùng Tập đoàn quân số 9 do tướng Walter Model lãnh đạo tạo thành gọng kìm ở phía Bắc. Tập đoàn quân phía Nam do Thống chế Erich von Manstein chỉ huy phối hợp cùng Quân đoàn Panzer 4 tấn công vào khu vực phía Nam. Ban đầu chiến dịch Citadel dự định sẽ bắt đầu vào ngày 3/5/1943, nhưng sau đó Hitler đã cho hoãn chiến dịch đến ngày 12/6. Ông cho rằng, xe tăng là chìa khóa của chiến dịch nên tiếp tục hoãn chiến dịch đến ngày 5/7 để chờ đợi các vũ khí mới như xe tăng Panzer và nâng cấp xe tăng Tiger.



Hitler cho rằng, xe tăng là chìa khóa của chiến dịch Citadel nên đã huy động gần 3.000 xe tăng các loại trong trận đánh vào vòng cung Kursk. Ảnh: Wikipedia. 


Về phía Liên Xô, từ các thông tin tình báo và trinh sát thu thập được, Nguyên soái Georgy Zhukov khẳng định rằng, quân đội Đức sẽ tiến hành một chiến dịch quân sự lớn vào khu vực Kursk cách 450 km về phía tây nam Moscow. Nguyên soái Zhukov đề nghị xây dựng tuyến phòng ngự vững chắc kéo quân Đức sa vào cái bẫy để đập tan lực lượng thiết giáp, tạo điều kiện cho một cuộc phản công quy mô lớn nhằm giành thắng lợi quyết định. Hồng quân đã xây dựng 6 vành đai phòng thủ với chiều sâu 130-150 km trong đó có 3 khu vực phòng ngự chính với chiều sâu 40 km.

Lực lượng công binh Hồng quân đã cài 503.663 quả mìn chống tăng, 439.348 quả mìn sát thương trên 3 khu vực phòng ngự chính. 4.800 km giao thông hào đã được đào chằng chịt trong khu vực. Các bãi mìn tại khu vực Kursk có mật độ 1.700 quả mìn sát thương và 1.500 mìn chống tăng trên km 2, gấp 4 lần mật độ được sử dụng để bảo vệ Moscow. Lực lượng huy động cho chiến dịch phòng ngự tại vòng cung Kursk lên đến 1,3 triệu quân, 3.600 xe tăng các loại, 20.000 khẩu pháo chủ yếu là pháo chống tăng, 2.729 máy bay chiến đấu các loại. Lực lượng này chiếm 26% tổng quân số Hồng quân, 26% lực lượng pháo binh, 35% máy bay và 46% lực lượng tăng thiết giáp. Việc hoãn kế hoạch tấn công muộn hơn 2 tháng của Đức đã tạo thêm thời gian cho Hồng quân xây dựng tuyến phòng ngự kỹ lưỡng nhất.

Cuộc chạm trán xe tăng lớn nhất lịch sử




Trận đánh tại cánh đồng Prokhorovka đã trở thành cuộc chạm trán xe tăng lớn nhất lịch sử nhân loại. Ảnh: Wikipedia. 


Sáng sớm ngày 5/7/1943, quân đoàn II SS Panzer phát động cuộc tấn công quy mô lớn vào khu vực Kursk. Sau một tuần công kích, mũi tấn công phía Nam của Thống chế Von Manstein tiến được 36 km vào tuyến phòng ngự nhưng không phá vỡ được. Hướng tấn công phía Bắc của Tập đoàn quân trung tâm chỉ tiến được 12 km vào tuyến phòng ngự.


Ngày 10/7, Hồng quân bắt đầu chiến dịch phản công quy mô lớn, cuộc chạm trán giữa đôi bên lên đến đỉnh điểm vào ngày 12/7 tại cánh đồng Prokhorovka. Chỉ trong vòng 3 ngày, hai bên đã tung vào trận chiến những sư đoàn xe tăng hùng mạnh nhất với tổng số lên đến 1.200 xe tăng và pháo chống tăng tự hành. Trận đánh tại Prokhorovka đã trở thành cuộc chạm trán xe tăng lớn nhất lịch sử nhân loại.


Tại Prokhorovka Tập đoàn quân xe tăng số 5 của Hồng quân đã chạm trán Tập đoàn quân II SS-Panzer của Đức. Hồng quân đã sử dụng chiến thuật táo bạo khi cho xe tăng hạng trung T-34 cắt vào giữa đội hình xe tăng Đức. Những chiếc T-34 nhanh nhẹn quần thảo giữa đội hình những chiếc Tiger và Panzer nặng nề khiến đội hình tấn công bị cắt đứt buộc phải rút lui. Cả hai bên đều chịu thiệt hại nặng song đợt tấn công của Đức đã bị chặn đứng. Tối 12/7, Hitler triệu tập von Kluge và von Manstein yêu cầu ngưng chiến dịch Citadel để rút quân về đối phó với đợt tấn công của quân đồng minh vào miền Nam nước Pháp. Ngày 16/7 quân Đức rút về vạch xuất phát, trong khi Hồng quân đã phát động đợt phản công quy mô lớn nhằm chiếm ưu thế trên mặt trận phía Đông. Lần đầu tiên, một đợt tấn quy mô lớn chưa từng có của Đức phải dừng lại trước khi đạt được sự đột phá.

Tổn thất của đôi bên


Liên Xô đã phải trả một cái giá rất đắt cho thắng lợi tại trận Vòng cung Kursk. Ảnh: Wikipedia. 



Trận Vòng cung Kursk là một chiến thắng mang tính chiến lược có ý nghĩa quyết định đến cục diện chiến trường. Thắng lợi của Hồng quân đã đẩy quân đội Đức quốc xã từ thế chủ động lâm vào thế bị động. Tuy nhiên, cái giá của chiến thắng không hề rẻ. Theo số liệu của nhà sử học Grigoriy Krivosheyev, trong trận Kursk, 429.890 chiến sĩ Hồng quân hy sinh, tổng số quân hy sinh và thương vong lên đến 685.456 người.

Tổn thất về trang thiết bị vũ khí rất lớn, 1.614 xe tăng bị phá hủy trong tổng số 3.600 chiếc tham chiến. 2.349 khẩu pháo các loại bị phá hủy, 1.116 máy bay bị bắn rơi. Các số liệu về tổn thất của quân Đức không rõ ràn. Theo nhà sử học Karl-Heinz Frieser, khoảng 198.000 binh lính thiệt mạng hoặc bị thương, 760 xe tăng bị phá hủy, 524 máy bay bị bắn rơi. Cựu Thủ tướng Anh Winston Churchill từng nói "Trận Stalingrad là kết thúc của sự khởi đầu nhưng trận Kursk là khởi đầu của sự kết thúc".

Chủ Nhật, 9 tháng 11, 2014

Con tàu mất tích bí ẩn bậc nhất lịch sử hàng hải

Năm 1928, tàu Kobenhavn mất tích đầy bí ẩn khi đang thực hiện chuyến hành trình như thường lệ. Cho đến nay, con tàu này vẫn biệt tăm tích.

Công ty East Asia tại Đan Mạch đã mất vài năm để đóng tàu 5 cột buồm Kobenhavn với chiều dài lên đến 132m. Mặc dù nó không phải là con tàu lớn nhất thời điểm đó nhưng là tàu được trang trí đẹp nhất. Trong đó, phía trước mũi tàu được trang trí một bức tượng kỵ sĩ bọc thép.


Tàu Kobenhavn thực hiện chuyến hành trình lần đầu tiên vào ngày 26/10/1921 và xuất phát từ cảng Copenhagen. Chuyến tàu này thực hiện hành trình vòng quanh thế giới trong 404 ngày. Trong vòng 7 năm, con tàu trên đã thực hiện nhiều chuyến đi thành công, vận chuyển hàng hóa đến Argentina, Australia và Đông Nam Á và đem lại lợi nhuận cao cho công ty East Asia.


Tàu Kobenhavn mất tích không để lại dấu vết. 

Tuy nhiên, tàu Kobenhavn gặp biến cố vào ngày 14/12/1928. Khi đó, tàu Kobenhavn rời Rio de la Plata - một khu vực nằm giữa Uruguay và Argentina. Thủy thủ đoàn của Kobenhavn gồm 60 thành viên. Trong số đó có nhiều người xuất thân từ những gia đình danh gia vọng tộc ở Đan Mạch.

Sau khi rời khỏi vùng biển Argentina, con tàu trên hướng về Australia sau khi nhận hàng hóa trở về châu Âu. Lần lần cuối tàu Kobenhavn phát tín hiệu là vào ngày 21/12/1928. Khi đó, con tàu liên lạc qua radio với tàu William Blumer của Na Uy, cách đảo Tristan da Cunha khoảng 900 km. Nhưng sau đó người ta không nhận bất kỳ tín hiệu nào từ nó. Sau đó, một loạt hoạt động tìm kiếm tàu Kobenhavn diễn ra nhưng không có kết quả. Vào tháng 1/1930, công ty bảo hiểm Lloyds tuyên bố tàu Kobenhavn mất tích và gạch tên ra khỏi danh sách đăng ký tàu.


Cho đến nay, nguyên nhân tàu Kobenhavn mất tích vẫn còn là một bí ẩn. Dấu vết duy nhất của vụ mất tích con tàu 5 cột buồm trên là việc phát hiện 7 bộ xương người trong sa mạc Namibia vào năm 1932. Khi đó, nhiều người đưa ra giả thuyết đó là bộ xương của những thủy thủ đoàn chết vì đói khát khi tàu của họ dạt vào bờ biển. Một số khác cho rằng tàu Kobenhavn bị va vào tảng băng khi di chuyển vào ban đêm hay thời tiết nhiều sương mù khiến thủy thủ đoàn không kịp phản ứng.

Thứ Năm, 6 tháng 11, 2014

5 thảm họa lớn nhất trong lịch sử quân đội Mỹ

Quân đội Mỹ đã mắc phải sai lầm khi phát động một số cuộc chiến tranh hay xung đột gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến cường quốc này.

1. Cuộc xâm lược Canada

Mở đầu cuộc chiến tranh năm 1812, quân đội Mỹ đã xâm chiếm Thượng và Hạ Canada. Các nhà lãnh đạo quân sự và dân sự đều mong đợi một sự đầu hàng nhanh chóng. Tuy nhiên, Mỹ đã đánh giá cao sức mạnh quân sự của phía mình mà đánh giá thấp đối phương. Thay vì giành chiến thắng một cách dễ dàng, Mỹ đã bị Anh dạy cho một bài học và phải nếm mùi cay đắng, nhận thất bại nặng nề.

Lực lượng Mỹ (chủ yếu là dân quân mới được "chiêu mộ") chuẩn bị xâm lược Canada trên 3 hướng nhưng không tấn công cùng một lúc và không thể hỗ trợ lẫn nhau. Quân đội Mỹ lại chưa có kinh nghiệm chiến đấu chống lại một đội quân chuyên nghiệp và họ thiếu lực lượng hậu cần. Chính những điều này khiến Mỹ bị hạn chế khả năng tập trung lực lượng chống lại những điểm yếu quân sự của Anh. Thêm vào đó, Mỹ cũng thiếu những kế hoạch dự phòng tốt để đảo ngược tình thế khi mà người Anh đã sớm có dự tính trước. Các chỉ huy quân đội Mỹ William Hull cũng không mấy nhiệt tình với cuộc chiến hay sẵn sàng chấp nhận rủi ro để đạt được lợi thế.

Thảm họa thực sự của chiến dịch xâm lược Canada của Mỹ trở nên rõ ràng hơn ở Detroit vào tháng 8, khi sự kết hợp giữa quân đội Mỹ bản xứ và Anh buộc tướng William Hull phải đầu hàng cho dù ông vẫn có lợi thế về quân số hơn hẳn đối phương. Anh đã vây hãm và thiêu rụi nhiều tiền đồn của Mỹ. Lực lượng Mỹ giành được nhiều thành công trong cuộc chiến trong đó có việc khôi phục lại vị trí dọc theo biên giới nhưng không bao giờ đe dọa được Canada - Anh.

Sự thất bại của cuộc xâm lược tưởng chừng dễ dàng đã khiến người Mỹ tỉnh mộng. Cuối cùng, Anh vẫn giữ vững địa vị của mình tại lục địa, đảm bảo sự độc lập của Canada trước tham vọng của Mỹ.

2. Trận chiến Antietam

Vào tháng 9/1862, Robert E.Lee đã xâm lược Maryland cùng với quân đội Bắc Virginia. Mục tiêu của Robert E.Lee là tận dụng các cơ hội để nhằm gây thiệt hại nặng nề cho lực lượng Liên bang. Nhưng không may cho tướng Lee đó là thông tin về sự sắp đặt trận chiến bị lộ vào tay Twongs George McClellan - người đang nắm trong tay đội quân Potomac lớn hơn và di chuyển để đánh chặn Lee. Tổng thống Lincoln đã nhận ra đây là cơ hội để phá hủy hoặc vồ lấy lực lượng của tướng Lee.
Trận Antietam đã khiến 22.000 người thương vong, khiến nó trở thành ngày đẫm máu nhất trong lịch sử Mỹ. Tuy nhiên, trận chiến này cũng là cơ hội tốt nhất mà quân đội Liên minh có được để tiêu diệt quân đội Bắc Virginia.

3. Chiến dịch Drumbeat


Vào ngày 11/12/1941, phát xít Đức và Italy tuyên chiến với Mỹ. Trong bản hiệp ước giữa Đức với Nhật Bản không đòi hỏi Berlin hành động trong trường hợp Tokyo bị tấn công. Nhưng Đức vẫn quyết định phát động cuộc chiến chính thức với Mỹ tại Đại Tây Dương. Trong lịch sử, đây được coi là sai lầm lớn nhất trong đời Hitler. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, nó đã tạo cơ hội đầu tiên cho các tàu ngầm Đức di chuyển qua ven biển Mỹ.

Trong 6 tháng đầu năm 1942, lực lượng tàu ngầm U-boat của Đức dưới sự chỉ huy của Đô đốc Doenitz được triển khai vào ven bờ biển phía đông. Người Đức đã quan sát thấy một số hạn chế trước trận Trân Châu Cảng để tránh sự can thiệp phát sinh của Mỹ. Cuối cùng, tàu ngầm Đức đã gặt hái được thành công lớn trong khi không có bất kỳ quan chức nào của Không quân Mỹ, Hải quân Mỹ hay cơ quan bảo vệ dân sự chuẩn bị tốt cho việc đương đầu với tàu ngầm.

Kết thúc trận chiến, thiệt hại của quân đồng minh đã tăng gấp đôi so với năm 1941 và ở mức cao trong suốt năm 1942. Thành công của Đức quốc xã khiến Anh càng thêm lo lắng. Do đó, Anh nhanh chóng gửi cố vấn sang Mỹ để giúp phát triển học thuyết chống tàu ngầm.

4. Chiến tranh Triều Tiên 1950 - 1953

Sau khi bảo vệ thành công Pusan và chiến thắng trên bãi biển Inchon, quân đội và thủy quân lục chiến Mỹ dưới sự hỗ trợ của lực lượng Hàn Quốc đã tiến sâu vào lãnh thổ Triều Tiên nhằm phá hủy chính quyền Bình Nhưỡng và chuyển giao toàn bộ quyền kiểm soát bán đảo Triều Tiên cho chính quyền Seoul.

Đây là một thảm họa hoạt động và chiến lược. Khi quân đội Mỹ tiếp cận biên giới Trung Quốc từ 2 trục khác nhau rộng lớn, quân đội Trung Quốc đã tập trung ở vùng núi của Triều Tiên. Trung Quốc đã tăng cường đưa ra các cảnh báo ngoại giao nhưng Mỹ vẫn ngây ngất trong chiến thắng ở Inchon, nên không để tâm tới điều này. Đặc biệt là khi Trung Quốc thời điểm đó rất nghèo, quân đội lại yếu còn Liên Xô cho thấy không thể can thiệp trực tiếp nên Mỹ đã chủ quan.

Khi Trung Quốc phản công lại vào tháng 11/1950, Bắc Kinh đã khiến quân đội và Thủy quân lục chiến Mỹ nếm mùi thất bại và chịu tổn thất nặng nề. Chỉ trong một thời gian, Quân đội Trung Quốc (PLA) dường như đã đánh lực lượng Liên hợp quốc tơi bời.

5. Giải tán quân đội Iraq

Ngày 23/5/2003, Paul Bremer (người đại diện chính phủ lâm thời tại Iraq) đã ra lệnh quân đội Iraq giải tán. Đây được cho là một quyết định khủng khiếp vào thời điểm đó.

Quân đội Iraq đã dính líu sâu sắc tới cơ cấu quyền lực Baathist thống trị Iraq trong suốt nhiều thập kỷ. Nhiều lãnh đạo đã phạm tội ác chiến tranh, chống lại thường dân Iraq. Bremer lập luận việc giải thể quân đội nhằm phản ứng lại cuộc xâm lược của Mỹ ở Iraq.

Quân đội Hoàng gia Iraq ra đời đầu những năm 1920 trong bối cảnh Iraq vẫn được Đế quốc Anh bảo hộ. Năm 1941, Iraq vùng lên nổi dậy nhưng người Anh đã có quyết định khôn ngoan khi giữ Iraq để duy trì trật tự. Năm 1948, lực lượng này chiến đấu chống lại quân đội Israel trong cuộc chiến giành độc lập của Israel. Trong những năm 1980, Iraq tiến hành cuộc chiến 8 năm chống lại Iran.
Tuy nhiên, quân đội Iraq đã liên tục nếm mùi thất bại trong hầu hết các nhiệm vụ quân sự khi không nhận được sự hỗ trợ từ Mỹ. Trong cuộc chiến chống IS, quân đội Iraq đã trở thành trò cười cho khu vực.

Sự thật về "ban công tình yêu" trong “Romeo và Juliet

Không chỉ vắng bóng trong kịch Shakespeare, ban công còn chưa hề xuất hiện ở nước Anh vào thời Shakespeare.

Đó là một trong những cảnh kinh điển của sân khấu thế giới, với Juliet đứng trên ban công và Romeo ở dưới khu vườn, thề nguyền yêu đương trọn đời trọn kiếp. Vấn đề là Shakespeare chưa từng đề cập đến từ "ban công" trong vở kịch gốc.

Thậm chí, ở thời Shakespeare còn chưa có từ “ban công”. Bản thân nhà soạn kịch vĩ đại không biết ban công là cái gì. Không chỉ vắng bóng trong kịch Shakespeare, ban công còn chưa hề xuất hiện ở nước Anh vào thời Shakespeare.

Ban công đến nước Anh sau khi Shakespeare qua đời


Sự thực kỳ lạ này có thể được xác nhận bởi bất cứ ai từng đọc toàn bộ vở kịch gốc của Shakespeare. Nhưng điều phức tạp hơn là tại sao cái ban công đó lại xuất hiện và gắn chặt với mối tình Romeo và Juliet, trở nên nổi tiếng suốt 400 năm qua, đến mức không thể tách rời khỏi vở kịch như vậy?

Theo từ điển Oxford, từ “ban công” xuất hiện lần đầu vào năm 1618 với cách viết “balcone” chứ không phải “balcony” như ngày nay. 1618 là 2 năm sau khi Shakespeare qua đời.

Cảnh ban công trong phim điện ảnh Romeo và Juliet năm 1936. 

Còn ngoài đời, ban công chỉ được đưa từ châu Âu lục địa vào nước Anh trong năm 1611, gần 15 năm sau khi vở Romeo và Juliet lần đầu công diễn, nhờ một người Anh có tên Tom Coryat.

Vào thế kỷ 17, cái “ban công” khi đó còn chưa có danh từ để gọi, bị xem là chi tiết kiến trúc có phần... tai tiếng ở Anh. Nguyên nhân do ban công làm mất đi sự riêng tư của những ngôi nhà Anh vốn khép kín. Ngoài ra, khí hậu nước Anh quá lạnh, không phù hợp để có những không gian mở như ban công.

Nói thế để thấy công chúng từng xa lạ đến mức nào trong cả đời sống lẫn văn hóa Anh dưới thời Shakespeare. Nhưng cùng với sự phát triển tự nhiên của văn chương và sân khấu, ban công đã xuất hiện và trở thành chi tiết cải biên quan trọng nhất trong Romeo và Juliet. Câu hỏi là sự thay đổi đã diễn ra như thế nào?

“Đóng góp vĩ đại” của Thomas Otway

Tờ Atlantic cho biết thực chất cảnh tỏ tình bên ban công đến từ một nhà soạn kịch khác là Thomas Otway. Ngày nay Otway ít được biết đến, nhưng ông là một nhà soạn kịch nổi tiếng ngang ngửa với Shakespeare thời đó.

Năm 1642, Quốc hội Thanh giáo Anh đã đóng cửa các nhà hát ở London. Sau khi Vua Charles 2 được phục hồi vương vị năm 1660, ông mở lại các nhà hát. Kịch Shakespeare lại được diễn, trong đó có Romeo và Juliet vào năm 1662. Nhưng nổi tiếng hơn cả Romeo và Juliet thời đó là The History And Fall Of Caius Marius (Lịch sử và sự sụp đổ của Caius Marius) của Otway, ra rạp vào năm 1679.

Điểm mấu chốt nằm ở chỗ vở Caius Marius ghép các đoạn thoại, nhân vật và cốt truyện của Romeo và Juliet vào bối cảnh cuộc chiến chính trị và quân sự thời La Mã cổ đại. Sự "vay mượn" này là điều thông thường với các vở kịch thời đó, bản thân Shakespeare cũng vay mượn từ nhiều nguồn khác khi viết kịch.

Khán giả thế kỷ 17 và 18 không sốc khi nghe các nhân vật Lavinia và Marius của Otway nói những lời thoại của Romeo và Juliet. Hơn thế, thời đó Otway lại nổi tiếng hơn Shakespeare.

Từ năm 1701 đến 1735, Caius Marius được trình diễn hơn 30 lần, trong khi Romeo và Juliet không ra rạp một lần nào. Kịch Shakespeare không được dạy trong trường học, các bản in cũng hiếm và đắt. Chỉ từ thế kỷ 18, kịch Shakespeare và đặc biệt là Romeo và Juliet mới trở nên nổi tiếng.

Quay lại chuyện cái ban công, Otway dù vay mượn Shakespeare nhưng đã thêm một sáng tạo đắt giá vào vở kịch. Ông đã bổ sung cảnh ban công và khu vườn vào cảnh thổ lộ tình cảm giữa đôi tình nhân trong Caius Marius. Ngoài ra Otway còn góp thêm một cảnh hay ở cuối tác phẩm: khi chất độc giả của nhân vật nữ hết tác dụng thì chất độc thật của nhân vật nam mới phát tác.

Có thể thấy, dù Otway chỉ thực hiện một thay đổi nhỏ nhưng chi tiết ông tạo ra đã đi vào lịch sử và sức lan tỏa văn hóa thì không thể tính được. Hình ảnh Juliet đứng trên ban công với Romeo đứng dưới khu vườn đã trở thành vĩnh cửu.


Có một thực tế nữa là khi nhắc đến Romeo và Juliet hay các vở kịch khác của Shakespeare, dường như người ta ít quan tâm đến văn bản gốc mà lại quan tâm nhiều hơn đến các bản dựng của kịch hoặc những loại hình chuyển thể khác. Mỗi thời lại có những phiên bản Shakespeare của thời đó ở đủ thứ ngôn ngữ.

Vì vậy, qua hàng trăm năm, với vô vàn bản dựng, bản chuyển thể, ít ai còn nhớ trong Romeo và Juliet gốc đã không có ban công. Cái ban công đó đã được “sinh ra” và “nuôi dưỡng” cùng với vở kịch - một kiệt tác đã trường tồn cùng nhân loại.

Vì sao cảnh ban công mãi là kinh điển?


Trong Romeo và Juliet có cả ngọt ngào và cay đắng, có gặp gỡ, đoàn tụ và chia lìa, nhưng vì sao người ta chú ý nhiều tới cảnh tỏ tình bên ban công? Tác giả Lois Leveen trên Atlantic đã đi tìm câu trả lời cho câu hỏi này. Ông thấy rằng khán giả dường như muốn câu chuyện dừng lại mãi mãi ở khoảnh khắc tình yêu thanh xuân đẹp đẽ và bất tử.

Cái ban công là nơi Juliet nhoài người, ra khỏi sự bảo bọc của bố mẹ, để hướng về phía Romeo, với đam mê, hạnh phúc và và trắc trở. Tại nơi này, mọi bi kịch và chết chóc chưa xảy đến, chỉ có tình yêu hiện diện. Đó là điều người ta vẫn muốn tin, dù hàng trăm năm đã trôi qua.

Thứ Ba, 4 tháng 11, 2014

Huyền thoại Liên Xô bị Hitler coi là kẻ thù số 1

Iury Levitan là một huyền thoại, người ta gọi giọng đọc của ông là "Tiếng nói của đất nước", "tiếng nói của Liên Xô vĩ đại".

Nhiều người Việt Nam thường biết đến một Levitan khác, Isaak Levitan, họa sĩ nổi tiếng, tác giả của "Mùa thu vàng".

Nhưng với những người dân Xô-viết, Iury Levitan là một huyền thoại. Người ta gọi giọng đọc của ông là "Tiếng nói của đất nước", "tiếng nói của Liên Xô vĩ đại".

Các chương trình phát thanh quan trọng nhất của đất nước Xô-viết đều do Levitan thể hiện: tin quân Đức tấn công Liên Xô, các mệnh lệnh của Tổng tư lệnh tối cao Stalin trong Chiến tranh vệ quốc, đánh chiếm Berlin, Ngày chiến thắng, ngày Liên Xô phóng vệ tinh đầu tiên của loài người, ngày Gagarin bay vào vũ trụ...


Phát thanh viên huyền thoại Iury Borisovich Levitan. 
 
Trùm phát xít Hitler có lẽ là người "đánh giá cao" phát thanh viên Levitan nhất. Hitler đã gọi ông là Kẻ thù số 1 (kẻ thù số 2 mới là Stalin) và lệnh sẽ treo cổ Levitan đầu tiên, trong trường hợp quân Đức chiếm được Matxcơva.

Mật vụ Đức đã tốn bao công sức, thậm chí treo thưởng lớn, khoảng 250.000 mác (thời điểm chiến tranh, để "lấy đầu" Levitan. Cũng bởi vì Levitan được các nhân viên của Dân ủy nội vụ ( НКВД) bảo vệ ở mức cao nhất, với lệnh sẵn sàng nổ súng khi có một mối nguy hiểm, dù là nhỏ nhất, với Levitan.

Các cơ quan báo chí ở Liên Xô thời đó cũng nhận được lệnh không được in ảnh Levitan để kẻ thù dễ nhận diện ra ông.

Iury Levitan sinh ngày 19/9/1914 tại Vladimir. Năm 17 tuổi, Levitan đến Matxcơva để thi vào một khóa diễn viên.

Nhưng cũng đúng vào thời điểm đó, người ta tổ chức một lớp tuyển phát thanh viên và chàng trai có chất giọng đặc biệt này quyết định thử sức và trúng tuyển.

Mọi việc hết sức hanh thông với Levitan. Stalin một lần nghe được giọng đọc của Levitan và tỏ ra rất hài lòng.
Ông lệnh cho phát thanh viên trẻ tuổi này sẽ đọc toàn văn bản báo cáo của Stalin tại Đại hội Đảng trên sóng phát thanh.

Về sự kiện này, báo Moskovski Komsomolets nhiều năm trước đã kể lại:

"Đêm 25 tháng Giêng năm 1934, trong phòng làm việc tại điện Kremlin, Stalin đang soạn thảo báo cáo cho Đại hội thường kỳ lần thứ XVII của Đảng, sẽ được khai mạc vào ngày hôm sau. Để giải lao tí chút, Stalin bật radio.

Vào giờ này không còn một bản tin nào theo chương trình. Sóng phát thanh đang được dùng vào việc truyền đi những bài viết vừa mới lên khuôn trên trang nhất của tờ Pravda, từ Matxcơva.

Tại những vùng xa xôi nhất của đất nước, các tốc ký viên ghi lại lời bài báo, và sau vài tiếng, những tư liệu này đã được đăng trên các báo địa phương.

Stalin vặn to tiếng lên. Người phát thanh viên cẩn thận đọc từng từ một để những tốc ký viên có thể kịp thời ghi lại được tất cả. Giọng đọc đó có một ma lực kỳ lạ…

Stalin nhấc máy điện thoại: “Hãy nối đường dây cho tôi với Chủ tịch Ủy ban phát thanh!... Đồng chí Malsev! Ngày mai tôi phải đọc báo cáo tại đại hội, hãy để người hiện đang đọc bài xã luận trên báo Pravda đọc báo cáo của tôi trên radio. Tôi thích giọng của anh ta!”.

Lãnh đạo Ủy ban phát thanh thật sự hoảng sợ trước yêu cầu này của Stalin. Họ không thể giải thích cho lãnh tụ biết rằng trong buổi phát thanh kỹ thuật về đêm chỉ có những thực tập sinh làm việc, những người mà thực tế không có một kinh nghiệm gì.

Nhưng không còn cách nào khác. Buổi sáng, Ban lãnh đạo Đài phát thanh Xô-viết gọi Iury Levitan đến: “Hãy chuẩn bị sẵn sàng, anh sẽ đọc báo cáo của đồng chí Stalin trên đại hội”.

Hai giờ sau, người thực tập sinh đã ngồi trước máy ghi âm trong studio. Anh đọc báo cáo của Stalin liền 5 tiếng đồng hồ, không hề nghỉ giải lao, và không hề có một lỗi nào trong khi anh hoàn toàn không có thời gian xem trước bản báo cáo!


Stalin lại gọi điện thoại cho Chủ tịch Ủy ban phát thanh và nói: “Bây giờ, hãy để chính người này đọc tất cả những bài phát biểu của tôi và các văn kiện quan trọng khác trên radio!”.

Thế là chỉ trong một khoảnh khắc may mắn, người thanh niên 19 tuổi Iury Levitan trở thành phát thanh viên chính của đất nước Xô-viết"

Sau này, khi nhớ lại những năm tháng làm việc, Iury Levitan nói:" Tôi hạnh phúc, vì chúng ta, các phát thanh viên, có hân hạnh được làm việc tại Đài phát thanh ở Matxcơva-thủ đô nhà nước Xô viết, thành phố của những người lao động, thủ đô của hòa bình, của sự công bằng, hạnh phúc và tiến bộ. Tôi cho rằng, chúng ta, các phát thanh viên, đã làm việc thật sự chính vì tâm hồn mỗi chúng ta thôi thúc điều đó".

Nghệ sĩ nhân dân Liên Xô Iury Levitan đã được Nhà nước Liên xô trao tặng nhiều phần thưởng cao quý.

Sau khi ông mất (4/8/1983), tên ông được đặt cho các đường phố ở Vladimir, Alma Ata, Upha, Tver, Orsk...Hiện ông yên nghỉ tại Nghĩa trang danh nhân Novodevichj ở thủ đô Matxcơva.

Chủ Nhật, 2 tháng 11, 2014

Sự thật bất ngờ về “nữ binh thiện chiến” thời cổ đại

Theo kết quả nghiên cứu mới, những "nữ tướng thiện chiến Scythia” hút cần sa, xăm mình và chiến đấu trên lưng ngựa như nam giới.

"Những bằng chứng khảo cổ học đã cho chúng ta thấy những phụ nữ thiện chiến rất giỏi đánh nhau, săn bắn, cưỡi ngựa, sử dụng cung tên thuần thục như những người đàn ông", nhà sử học Adrienne Mayor chia sẻ trên tạp chí National Geographic.

Những nữ chiến binh này là một cộng đồng người du mục Hy Lạp được gọi là Scythia. Họ sinh sống và di chuyển quanh khu vực miền Bắc và Tây Địa Trung Hải.


Khi thực hiện các cuộc khai quật tại khu vực miền Bắc và Tây Địa Trung Hải, các chuyên gia đã khai quật hàng ngàn hố chôn cất và phát hiện vô số bộ xương. Ban đầu, các chuyên gia suy đoán những bộ xương đó là của nam giới, được chôn cùng với vũ khí và ngựa chiến.


Những nữ chiến binh thiện chiến được chôn cất cùng dụng cụ hút thuốc, đồ xăm mình... 

Tuy nhiên, sau khi kiểm tra ADN, nhiều bộ xương trong số đó là của phụ nữ. Họ gặp phải một số chấn thương từ chiến trận giống như nam giới. Những bộ xương của các nữ chiến binh người Scythia lẫn nam giới còn được chôn cất cùng dụng cụ hút thuốc cũng như đồ xăm mình của mỗi cá nhân.

Những nữ chiến binh thiện chiến này từng bị nghi ngờ là không thực sự tồn tại trong suốt một thời gian dài. Thêm vào đó, họ ghét đàn ông nên đã làm con trai bị thương hay giết chết đối phương.

Tuy nhiên, các chuyên gia không tìm được bằng chứng về giả thuyết đó. Thậm chí, tên của họ trong tiếng Hy Lạp có ý nghĩa rằng, những người phụ nữ sẽ cắt bỏ một bên vú của mình để việc sử dụng cung tên thuận lợi hơn.
Bà Adrienne cho biết: "Bất cứ ai từng xem bộ phim "The Hunger Games" (tạm dịch: Trò chơi sinh tử) hay nhìn thấy các nữ cung thủ đều nhận thấy đó là một ý tưởng phi lý. Thật vậy, trong số hàng ngàn tác phẩm nghệ thuật Hy Lạp cổ đại không hề có hình ảnh người phụ nữ nào chỉ có một bên vú".

Thứ Tư, 29 tháng 10, 2014

Bí ẩn đời tư của bá tước khát máu Dracula

Bá tước ma cà rồng Dracula được lấy từ nguyên mẫu đời thực dựa trên câu chuyện của Hoàng thân Vlad III xứ Wallachia.

Vlad III sinh năm 1431 tại Transylvania - khu vực vùng núi hiện nay là lãnh thổ của Romania. Vlad Tepes III còn được biết đến với tên gọi Vlad Impaler (Vlad Tepes), là con trai của lãnh chúa Vlad II Basarab - một vị tướng oai hùng của Romania. Ông đã lãnh đạo quân Romania chống lại sự xâm lược của quân Thổ Nhĩ Kỳ trong nhiều năm. 

Với những chiến công hiển hách trên chiến trường, hoàng đế Romania đã ban tặng cho Vlad II Basarab danh hiệu Dracul nghĩa là “đứa con của rồng”. Do đó, sau khi Vlad Tepes III lên nắm quyền, người dân trong vùng thường gọi ông là Dracula, nghĩa là con trai của Dracul.



Bức chân dung vẽ Hoàng thân Vlad III xứ Wallachia hồi đầu thế kỷ 16, được treo trong bảo tàng ở Lâu đài Ambras.

Nằm giữa vùng đất Kitô giáo châu Âu và vùng đất Hồi giáo của Đế quốc Ottoman, Transylvania và Wallachia thường xuyên là nơi diễn ra những trận chiến đẫm máu khi quân đội đế chế Ottoman cố gắng tiến vào vùng lãnh thổ châu Âu.

Khi Vlad II tham gia một cuộc họp ngoại giao năm 1442 với Sultan Murad II. Khi đó, Vlad II đã mang theo hai người con trai nhỏ là Vlad III và Radu. Tuy nhiên, cuộc họp trên thật ra là một cái bẫy: cả ba cha con bị bắt và giữ làm con tin. Vlad II chỉ được thả ra với điều kiện sẽ để hai con trai bé nhỏ ở lại làm con tin.

Trong những năm bị đế chế Ottoman giam cầm, Vlad và em trai được dạy về khoa học, triết học và nghệ thuật. Vlad cũng trở thành một chiến binh xuất sắc. Theo một số tài liệu, trong thời gian bị cầm tù, Vlad III có thể từng bị tra tấn cũng như phải chứng kiến cảnh tượng rùng rợn đế chế Ottoman đóng cọc xuyên người đối với kẻ thù của họ.


Bức tranh vẽ Hoàng thân Vlad III và các phái viên Thổ Nhĩ Kỳ của Theodor Aman (1831-1891). 

Sau khi được thả, Vlad II đã bị lãnh chúa địa phương hợp sức lật đổ sự cai trị của ông ở Wallachia. Chưa dừng lại ở đó, ông còn bị giết chết ở đầm lầy gần Balteni, Wallachia năm 1447. Bi kịch tiếp tục ập đến Vlad III khi anh trai của ông là Mircea bị tra tấn dẫn đến mù lòa rồi bị chôn sống.

Sau khi gia đình bị giết hại, Vlad III được đế chế Ottoman trả tự do. Kể từ đây, thời kỳ đẫm máu do vị hoàng thân này gây ra chính thức bắt đầu.

Năm 1453, thành phố Constantinople rơi vào tay đế chế Ottoman, đe dọa tất cả lãnh thổ châu Âu bị cuốn vào một cuộc xâm lược lớn. Chính vì vậy, Vlad III đã dẫn đầu một lực lượng để bảo vệ Wallachia. Năm 1456, trận chiến bảo vệ quê hương của Vlad III giành thắng lợi. Một số tài liệu kể rằng, Vlad III đã chặt đầu kẻ thù của mình là Vladislav II trong trận đấu 1 chọi 1.


Cảnh tượng hãi hùng Hoàng thân Vlad III xứ Wallachia thoải mái ăn uống khi ra lệnh cho người dưới đóng cọc xuyên người vô số người vô tội trước mặt mình.

Sau đó, Vlad III trở thành người cai trị xứ Wallachia - vùng đất đang chìm trong chiến tranh triền miên và những cuộc xung đột của các lãnh chúa địa phương. Để củng cố quyền lực, Vlad III đã mời hàng trăm lãnh chúa đến một bữa tiệc. Biết quyền lực của mình sẽ được thử thách. Tại đây, ông đã đâm chết cũng như đóng cọc xuyên người toàn bộ các lãnh chúa để trả thù cho người cha quá cố.

Vlad III được cho là đã giết hại khoảng 80.000 người dân bằng những cách thức khác nhau. Trong đó, ông đã đóng cọc xuyên người khoảng 20.000 người ở bên ngoài thành phố Targoviste. Sau khi chứng kiến cảnh tượng rùng rợn đó, đế chế Ottoman do Sultan Mehmed II lãnh đạo đã run sợ, chùn bước và từ bỏ cuộc xâm lược.

Đến năm 1476, trong khi hành quân tham gia trận chiến với Đế quốc Ottoman, Vlad III và đội quân tiên phong của ông bị phục kích. Do ở thế yếu thế hơn, bá tước Vlad III đã bị giết và chặt đầu. Sau đó, đầu của bá tước khát máu này được đưa đến Mehmed II ở Constantinople như một chiến lợi phẩm và treo trước cổng thành để người dân tận mắt chứng kiến.

Thứ Hai, 27 tháng 10, 2014

Vụ cướp 14 tấn vàng chấn động lịch sử những năm 1800

Vào giữa những năm 1800, lợi dụng sự tin tưởng của các linh mục, 4 người đàn ông đã "cuỗm" 14 tấn vàng.

Vào giữa những năm 1800, 4 binh lính đến từ Peru đã phát hiện số tài sản khổng lồ của Nhà thờ Pisco và lên kế hoạch đánh lừa các linh mục của nhà thờ để cướp số vàng bạc, châu báu quý giá.


Bốn binh sĩ trên lần lượt là Luke Barrett, Arthur Brown, Jack Killorain và Diego Alvarez. Họ đều được Nhà thờ Pisco tin tưởng và giao trọng trách quản lý, bảo vệ kho báu. Lợi dụng sự tin tưởng của Nhà thờ Pisco, 4 người lính Peru đã cướp hơn 14 tấn vàng cùng nhiều vật giá trị và bỏ trốn trên một chiếc thuyền sau khi giết hại các linh mục.

Trên đường chạy trốn sang Australia, chúng lạc đường nên đành phải bỏ lại chiến lợi phẩm trên một hòn đảo. Những tên cướp đã vẽ bản đồ ghi lại vị trí cất giấu kho báu với hy vọng một ngày nào đó sẽ quay trở lại lấy kho báu.


4 người lính đã lấy trộm 14 tấn vàng của nhà thờ Pisco hồi giữa những năm 1800.

Tuy nhiên, thật không may là trước khi thực hiện việc quay lại lấy kho báu,quân đội Peru phát hiện tung tích của 4 tên cướp. Điều này khiến 2 trong số 4 tên lính trên thiệt mạng. Hai người còn lại bị bắt giữ. Cuối cùng, Killorain là người duy nhất sống sót sau khi ngồi bóc lịch trong tù.
Trước khi qua đời, Killorain đã tiết lộ bí mật về vụ cướp kho báu ở Nhà thờ Pisco và nơi cất giấu kho báu với một người tên Charles Howe. Sau đó, Howe đã tìm thấy số kho báu trên nhưng không có khả năng mang số của cải giá trị đó đi. Vì vậy, Howe đã rời đi và hy vọng sẽ sớm quay trở lại lấy kho báu sau khi đã chuẩn bị kỹ lưỡng cho việc vận chuyển số tài sản đó.

Khi quay trở về, Howe kể lại mọi chuyện với George Hamilton và tiết lộ vị trí kho báu. Tuy nhiên, Hamilton không bao giờ tìm thấy kho báu chứa 14 tấn vàng mà 4 người lính Peru đã giấu do ông không hiểu được tấm bản đồ chỉ dẫn đến kho tàng giá trị trên.

Thứ Năm, 23 tháng 10, 2014

Những giai thoại kỳ lạ về thế giới dưới lòng đất

Một số người tin rằng, quân đội Hitler đã xây dựng một căn cứ ngầm dưới lòng đất. Thậm chí, Hitler vẫn sống ở thế giới dưới lòng đất.

Thế giới ngầm của Đức quốc xã




Các chuyên gia phát hiện những tấm bản đồ có từ thời Chiến tranh thế giới 2 hé lộ về một cuộc thám hiểm của Đức quốc xã đến trung tâm trái đất tại khu vực Nam Cực. 

Theo một số tài liệu, tàu ngầm U-boat của quân đội Hitler đã thực hiện chuyến đi trên và mang theo kế hoạch xây dựng căn cứ trong lòng Trái đất. Chính vì vậy, một số người hoài nghi rằng, hiện một số thành viên của Đức quốc xã, thậm chí là cả Hitler vẫn sống dưới lòng đất.


Người khổng lồ Agartha



Một giả thuyết khác về sự sống ở thế giới trong lòng đất đó là truyền thuyết về người khổng lồ Agartha. Những người tin vào truyền thuyết trên cho rằng thực sự tồn tại một thế giới của người khổng lồ và những thành phố hang động ở bên dưới bề mặt Trái đất. 

Nhà văn Willis George Emerson đã viết về thế giới bí ẩn trên trong cuốn tiểu thuyết "The Smoky God". Trong đó, ông miêu tả những người khổng lồ Agartha cao khoảng 3,6m và sống ở tâm trái đất. Để đến thế giới của người Agartha, con người phải đi qua hang động Mammoth ở Kentucky, Mỹ, khu vực Mato Grosso ở Brazil hoặc các hang động, đường nứt vỏ trái đất nằm rải rác trên địa cầu.
Mỹ phát hiện ra thế giới trong lòng đất có liên quan đến người ngoài hành tinh




Bên cạnh giả thuyết Đức quốc xã tìm thấy thế giới bí ẩn trong lòng đất ở Nam Cực, thế giới cũng từng lan truyền câu chuyện ly kỳ về việc người Mỹ phát hiện ra thế giới ngầm tại Bắc Cực. 

Những người ủng hộ giả thuyết này cho hay, Phó đô đốc Mỹ Richard Byrd từng tìm thấy lối vào một nền văn minh của người ngoài hành tinh thông qua một vết nứt lớn ở Bắc Cực. Khi gặp Byrd, người ngoài hành tinh thậm chí nói rằng họ sẽ giúp con người có nguồn thực phẩm vô hạn khi nhân loại bị diệt vong.

Người Mỹ bản địa từng sống dưới lòng đất



Chưa dừng lại ở đó, một số bộ lạc bản địa ở châu Mỹ như Oneida, Wichita, Creek cho hay, tổ tiên của họ từng là thành viên của bộ tộc sống trong lòng Trái đất. Tổ tiên xa xưa của những bộ lạc trên từng sống trong các hang sâu hun hút, vách núi cheo leo hoặc vết nứt của vỏ Trái đất. 

Tuy nhiên, khi được hỏi về lý do tại sao các bộ lạc bản địa trên chuyển lên mặt đất sống, mỗi bộ lạc đều có một cách giải thích khác nhau.

Thứ Tư, 22 tháng 10, 2014

Tiết lộ sốc về ngoại hình thật của vua Tutankhamun

Theo các nhà nghiên cứu ở Anh, pharaoh Tutankhamun có răng hô, chân khoèo, hông to và phải sử dụng gậy để đi lại trong suốt thời gian cầm quyền.

Mới đây, các chuyên gia công tác tại trường Cao đẳng Imperial London tại Anh đã mô phỏng khắc họa chân dung của pharaoh huyền thoại Tutankhamun.


Theo đó, dáng vẻ thực sự của pharaoh Tutankhamun không "long lanh" giống như mọi người vẫn tưởng. Thay vì là vị vua trẻ có vẻ ngoài tuấn tú, có niềm đam mê lớn đối với đua ngựa, pharaoh Tutankhamun đã phải chống gậy để đi lại trong suốt thời gian cai trị vào thế kỷ 14 trước công nguyên.

Để đưa ra được kết luận này, các nhà nghiên cứu đã tiến hành khám nghiệm hài cốt của vị vua huyền thoại song song với việc phân tích những mã di truyền của gia đình vua Tutankhamun, cụ thể là cha mẹ của ông chính là anh chị em.

Các nhà khoa học tin rằng, sự khuyết tật về thể chất của pharaoh Tutankhamun có liên quan đến sự mất cân bằng nội tiết tố. Điều đó đã khiến cho bàn chân của vua Tutankhamun bị biến dạng và ông phải sử dụng gậy chống để đi lại.


Các nhà nghiên cứu Anh mới tiết lộ vua Tutankhamun có răng hô, chân khoèo, hông to và phải chống gậy để di chuyển. 

Một vài giả thuyết khác về vị vua huyền thoại trên đã được đưa ra cho thấy, vua Tutankhamun đã bị ám sát hoặc qua đời do tai nạn xe ngựa. Điều này được chỉ ra khi một vài nhà nghiên cứu tìm thấy những mảnh xương bị gãy và chấn thương hộp sọ.


Tuy nhiên, hiện các chuyên gia đã khẳng định vua Tutankhamun qua đời vì một căn bệnh di truyền chứ không phải mất do tai nạn đua ngựa. Bởi lẽ, với dáng vẻ bề ngoài như trên, pharaoh Tutankhamun khó có thể tham gia môn đua ngựa. Tiết lộ mới về pharaoh Tutankhamun được giới thiệu trong bộ phim tài liệu của BBC có tên "One documentary Tutankhamun: The Truth Uncovered".

Giảng viên phẫu thuật Hutan Ashrafian thuộc trường Cao đẳng Imperial London tại Anh cho biết: "Một số thành viên khác trong gia đình của vua Tutankhamun cũng đã mắc một số bệnh liên quan đến sự mất cân bằng nội tiết tố. Rất nhiều người trong gia đình vị vua huyền thoại trên đều chết trẻ".


Nhà nghiên cứu chẩn đoán hình ảnh Ai Cập Ashraf Selim chia sẻ: "Kết quả của bản khám nghiệm hài cốt chỉ ra, các ngón chân của vua Tut bị biến dạng và điều này khiến vị vua trẻ đi khập khiễng. Các chuyên gia chỉ tìm thấy một vết nứt ở đầu gối - tai nạn mà vua Tutankhamun gặp phải trước khi qua đời. Thêm vào đó,nhiều chuyên gia còn củng cố lập luận này khi phát hiện ra khoảng 130 chiếc gậy chống đi bộ trong ngôi mộ của vua Tutankhamun".

Thứ Ba, 14 tháng 10, 2014

9 sai lầm khó tin trong chiến tranh (1)

Một phi công Mỹ dẫn đồng đội hạ cánh xuống lãnh thổ của đối phương vì tính toán sai thời tiết... là sai lầm khó tin thời chiến.

Chuốc họa vì đánh giá thấp đối thủ


Chiến dịch Gallipoli, hay Trận Gallipoli, kéo dài từ tháng 4 tới tháng 12 năm 1915, do liên minh Anh - Pháp phát động nhằm chiếm thủ đô của Đế chế Ottoman là Constantinopolis (nay là Istanbul). Là chiến dịch đổ bộ lớn nhất và tham vọng nhất trong Thế chiến thứ nhất, cuộc tấn công thất bại với thiệt hại nặng nề cho cả hai phía. Với lực lượng Đồng minh, thảm kịch đã bắt đầu từ vài tháng trước khi chiến dịch diễn ra.

Một trận đánh trong chiến dịch Gallipoli. Ảnh: gallipoliexperience.com.

Thứ nhất, các kịch bản chiến tranh mà Anh và Pháp soạn thảo đều đề cập tới việc đổ bộ lê neo biển Dardanelles (ở phía tây bắc Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay). Để thực hiện cuộc đổ bộ, binh sĩ phải tập luyện kỹ và sử dụng những khí tài hiện đại nhất thời bấy giờ. Thế nhưng giới lãnh đạo quân sự Anh lại muốn điều động những tàu chiến cũ tham gia chiến dịch. Chúng chẳng những có trục trặc kỹ thuật, mà nhiều vũ khí chúng mang theo không hoạt động. Ngoài ra các kế hoạch chiến tranh cũng cho rằng chiến dịch phải diễn ra trước khi quân Ottoman chuẩn bị. Người Hy Lạp liên tục nhắc nhở người Anh rằng London không nên quá tự tin. Theo phía Hy Lạp, quân liên minh cần khoảng 150.000 người để đổ bộ thành công. Thế nhưng các nhà hoạch định chiến tranh của Anh phớt lờ những lời nhắc nhở từ Hy Lạp. Họ tin rằng họ chỉ cần khoảng 75.000 người. Mặc dù người Anh có nhiều bản đồ về eo biển Dardanelles, nhưng họ lại không bức không ảnh nào. Thậm chí một tướng Anh bình luận rằng lính Ottoman sẽ chạy ngay sau khi binh sĩ Đồng minh đặt chân lên lãnh thổ Ottoman nên quân Đồng minh chẳng cần máy bay. Tất nhiên, vị tướng đó đã nhận định sai lầm và lực lượng Đồng minh hứng chịu thất bại thảm hại trước người Thổ.

Sai lầm khó hiểu của quân đội Pakistan

Vào năm 1965, những thành phần hiếu chiến trong chính phủ Pakistan và quân đội tin rằng Ấn Độ không còn khả năng bảo vệ vùng Jammu và Kashmir. Pakistan cũng hy vọng Mỹ và Trung Quốc sẽ ủng hộ họ, bởi Mỹ từng bán cho họ những khí tài hiện đại nhất, còn Trung Quốc cũng từng giao chiến với Ấn Độ ở biên giới vào năm 1962, The Guardian đưa tin. Giới lãnh đạo quân sự soạn thảo Chiến dịch Gibraltar để điều động vài nghìn binh sĩ ở phía tây Pakistan xâm nhập vào vùng Kashmir. Nhiệm vụ của họ là gây bất ổn định và xúi giục người dân chống Ấn Độ. Chính phủ Ấn Độ ước tính gần 30.000 người tham gia chiến dịch Gibraltar, trong khi Pakistan khẳng định con số đó chỉ là 7.000.

Những ngôi nhà thuộc khu vực Kashmir. Ảnh: blogspot.com. 


Vào tháng 8/1965, chiến dịch Gibraltar diễn ra. Dường như mọi việc diễn ra theo đúng kế hoạch cho tới khi mọi người nhận ra rằng giới chức Pakistan chưa hề liên lạc với người dân ở Kashmir. Thậm chí họ còn không cho giới lãnh đạo địa phương biết cách thức mà chiến dịch sẽ diễn ra. Vì thế người dân không nổi dậy để chống chính quyền Ấn Độ. Ngược lại, người dân địa phương còn coi binh sĩ Pakistan là những kẻ xâm nhập nên họ hợp tác với cơ quan tình báo Ấn Độ để xua đuổi. Ấn Độ công bố cuộc tấn công và kế hoạch chiến tranh của Pakistan trên các phương tiện truyền thông. Mặc dù biết rằng Chiến dịch Gibraltar đã thất bại, yếu tố bất ngờ không còn và các cường quốc bên ngoài cũng không ủng hộ, Pakistan vẫn quyết định phát động cuộc tấn công toàn diện vào Kashmir. Chiến dịch của họ rơi vào thế bế tắc và Liên Hiệp Quốc đã dàn xếp để hai nước ký hiệp định ngừng bắn vào ngày 22/9/1965.

Phi đội Mỹ đáp xuống lãnh thổ đối phương

Vào ngày 10/7/1918, thiếu tá Harry Brown – sĩ quan thuộc phi đội số 96 của Không quân Mỹ - biết rằng các thành viên của phi đội rất muốn chiến đấu. Mặc dù các phi cơ của họ chưa nhận nhiên liệu và vũ khí, Brown vẫn quyết định thực hiện một vụ ném bom khi mây trở nên thưa thớt trên bầu trời vào lúc chiều muộn. Anh ta dẫn đầu 6 phi cơ bay lên bầu trời.


Một phi đội máy bay chiến đấu trong Thế chiến thứ nhất. Ảnh: History.


Nhưng một lát sau mây lại giăng kín bầu trời nên các phi công không thể nhìn thấy mặt đất. Gió bắt đầu thổi mạnh khiến các máy bay chệch khỏi lộ trình. Brown thông báo với đồng đội rằng họ đã mất phương hướng. Do nhóm phi công không mang theo dù, họ chẳng còn cách nào khác ngoài việc đáp xuống. Khi tiếp đất, họ bàng hoàng khi nhận ra nơi họ đáp xuống là Koblenz, Đức. Ngay lập tức binh sĩ Đức xuất hiện và bắt họ.

Một lát sau, máy bay Đức thả thông điệp xuống một sân bay của phe Đồng minh với nội dung mang tính chế giễu: “Chúng tôi cảm ơn các máy bay và thiết bị của các ngài, nhưng chúng tôi sẽ làm gì với ngài thiếu tá?”. Tướng Billy Mitchel, “cha đẻ” của lực lượng Không quân Mỹ, viết trong nhật ký như sau: “Đây là một trong những màn trình diễn vô ích nhất mà chúng tôi từng gặp trên chiến trường. Dĩ nhiên, chúng tôi không hồi đáp về viên thiếu tá. Anh ta nên ở cùng người Đức, chứ không nên về với chúng tôi”.

Tiết lộ sốc về xác tàu “ăn thịt người” tại Bắc Cực

Sau 168 năm mất tích, tàu HMS Erebus bị mắc kẹt năm 1846 được phát hiện với dấu hiệu một số thủy thủ phải ăn thịt người để tồn tại.

Tàu HMS Erebus do thuyền trưởng John Franklin dẫn đầu thám hiểm Bắc Cực và mắc kẹt năm 1846. Sau 168 năm mất tích, con tàu được phát hiện với dấu hiệu một số thủy thủ phải ăn thịt người để tồn tại.

Giữa thế kỷ 19, những bộ xương người đầu tiên được phát hiện tại vùng biển Bắc Cực thuộc Canada, nghi là thủy thủ đoàn trên con tàu xấu số HMS Erebus. 2 bộ xương đầu tiên được tìm thấy trên bờ biển đảo King William năm 1859, thuộc về 2 người đàn ông chết ngồi từ lâu. Mười năm sau, một bộ xương khác cũng được tìm thấy trên bãi biển này.

Đến năm 1879, người ta phát hiện thêm 6 bộ xương trắng và chúng lần lượt xuất hiện thêm vào các năm 1932, 1987 và 1992, tất cả đều không được chôn cất. Một số bộ hài cốt còn có vết răng của những loài động vật gặm nhấm. Đáng sợ hơn, một vài bộ xương có dấu hiệu của các vết lóc thịt, chủ yếu trên cổ tay.

Tàu HMS Erebus mất tích năm 1846 tại Bắc Cực. Ảnh: Wikipedia.

Một nhóm nghiên cứu của Canada khẳng định đây chính là các thành viên thủy thủ đoàn trên con tàu HMS Erebus do thuyền trưởng John Franklin dẫn đầu, bị mắc kẹt trong băng gần đảo King Wiliam cách thành phố Toronto – Canada khoảng 1.200 hải lý về phía Tây Bắc vào năm 1846 kéo theo cái chết của 129 người đàn ông.

Tháng 9/2014, các nhà thám hiểm phát hiện một xác tàu ở khu vực trên và hôm 2/10, Hiệp hội Địa lý Hoàng gia Canada xác nhận xác tàu chính là HMS Erebus.

Ông John Geiger, thành viên nhóm nghiên cứu, đồng thời là Chủ tịch Hiệp hội Địa lý Hoàng gia Canada, cho biết: “Con tàu ở trong tình trạng đáng kinh ngạc. Như thể chúng tôi đang ở trên mặt trăng vậy”.

Một con tàu khác song hành với tàu Erebus là HMS Terror hiện vẫn chưa được tìm thấy. Cả hai con tàu đều biến mất trong cuộc thám hiểm “hành lang Tây Bắc”, chỉ con đường biển nối liền Đại Tây Dương và Thái Bình Dương qua ngõ Bắc Cực.

Hình ảnh siêu âm chụp tàu HMS Erebus dưới đáy biển. Ảnh: AP. 



Ảnh: Canadian Press. 

Theo một bản ghi được tìm thấy trên một ụ đá, sau 2 năm kẹt ở Bắc Cực, thủy thủ đoàn giảm từ 129 xuống còn 105 người, trong đó cả thuyền trưởng Franklin cũng thiệt mạng. Những người còn lại rời bỏ con tàu vì hết thực phẩm dự trữ, lang thang trên băng và khiến cái chết đến với họ càng mau chóng hơn.

Theo thông tin của nhóm dân tộc bản địa Inuit từ thế kỷ 19 được lưu trữ, các thành viên thủy thủ đoàn người chết vì bệnh tật, người qua đời vì ngộ độc chì gây ra bởi thức ăn đóng hộp. Còn một nguyên nhân nữa chưa được xác minh, đó là thủy thủ đoàn phải ăn thịt lẫn nhau để tồn tại chờ cứu hộ. Bằng chứng là các vết cắt trên xương, đặc biệt ở phần cổ tay, được tìm thấy trên nhiều bộ hài cốt.

Một nhà nghiên cứu xem xét xác tàu HMS Erebus. Ảnh: Parks Canada.


Thêm một bí ẩn nữa: Thi thể thuyền trưởng Franklin không được tìm thấy. Có ý kiến suy đoán ông có thể được chôn cất trên bờ, bị chôn vùi dưới đáy biển hoặc cũng có khi vẫn còn nằm lại trên tàu.

Việc xác định xác tàu HMS Erebus có thể sẽ trả lời được nhiều bí ẩn xoay quanh thời đại ăn thịt người Victoria.

Thứ Hai, 13 tháng 10, 2014

Giai thoại về những cao thủ luyện thành nội công thượng thừa

Trong các câu chuyện về võ thuật, có lẽ không có gì hấp dẫn và cũng gây tranh cãi nhiều như chuyện về khí công, nội công.

Trong giới võ thuật luôn truyền tụng câu: “Luyện quyền chẳng luyện công, về già cũng như không”. Đại khái thì câu này có nghĩa là người luyện võ mà không luyện nội công thì đến già cũng không còn gì, không hơn gì người không luyện.

Câu chuyện về nội công luôn là một chủ đề gây hứng thú và tranh cãi trong giới luyện võ. Bởi lẽ môn nào phái nào cũng có những bài bản nhất định để rèn tập nội công. Tuy vậy, sự giống nhau là ở bất kỳ môn nào, đồ đệ chỉ được rèn luyện nội công khi đã luyện tập đến một trình độ nhất định. Đó là chưa kể dù có được luyện tập cũng chưa chắc đã thành tựu được. Chính bởi vậy mà các cuộc tranh luận về nội công thường rất sôi nổi thậm chí không có hồi kết.



Võ sư Hàng Thanh biểu diễn nội công để cho xe cán qua lưng qua bụng mà không cần ván gỗ lót bên trên. Ảnh in trên bìa cuốn sách "Tự luyện nội công Thiếu lâm Sơn Đông" của võ sư Hàng Thanh, xuất bản năm 1974.

Nguyên do của nó, như võ sư Hàng Thanh từng viết trong cuốn “Tự luyện nội công Thiếu lâm tự” là: “ Nhiều bậc sư phụ tân thời đã bày vẽ cho môn đồ của họ những nguyên tắc luyện nội công một cách quá đơn giản, để rồi những môn đồ yêu quý có gia công hàng nhiều năm tháng cũng chẳng đến đâu. Cũng theo chiều hướng nhằm giản dị hóa những bài giảng về phép tu luyện nội công, nhiều tác giả chỉ trình bày sơ lược vài phép tập luyện đơn sơ, rồi những người tự luyện tưởng chừng như mình lãnh hội được chân truyền… mà thật ra mọi người đã hàm hồ không ai nắm được yếu quyết về cách tu luyện… Con số quá lớn những người không thành tựu công phu lần lần đi vào đường mất tin tưởng những bí quyết”.

Vì nội công là võ học thượng thừa mà đến nay phần nhiều vẫn còn được truyền thụ theo dạng “khẩu truyền tâm ấn”, chỉ người dạy và người học ấn chứng được. Bởi thế ở đây chúng tôi không dám mạn đàm mà chỉ xin nêu ra một vài câu chuyện, sự tích về các khả năng của những bậc danh sư võ học được cho là thành tựu về nội công.

Âm kình đánh chết thú dữ


Theo Phương Thái Không đại sư viết trong cuốn “Tự luyện Thiết sa chưởng”: Vào năm Dân quốc thứ 17 (1929), một danh sư võ học tên Cố Mi Chương, một hôm dạo chơi xứ Quảng Đông gặp một lực sĩ người Nga to lớn đang bày trò mãi võ tại đất Quảng với một con ngựa.

Người Nga đại lực sĩ rất tự đắc dẫn con thần mã giới thiệu với quần chúng đây là con thựa thần rất hung dữ, không ai có thể hàng phục nó được mà chỉ có đại lực sĩ Nga là khống chế nó dễ dàng dù là ngay trong lúc nó nổi điên. Thật ra thì ngựa nào chủ nấy, hắn đã huấn luyện con ngựa dữ này theo ý mình. Con ngựa biết tránh né và phản kích với đối thủ của nó và luôn tỏ ra hung hăng ngoại trừ chủ nó.

Cho tới buổi trưa hôm đó tại đất Hồ Quảng đã có rất nhiều võ sư bị ngựa đá trọng thương. Cố Mi Chương mang mối bất bình vì tự ái quê hương nên đã vào đấu với con ngựa dữ.

Con ngựa quả tinh khôn và kiêu dũng đã quần thảo với Cố Mi Chương đến vài ba phút. Nhưng trong một thoáng nhanh như điện, vị võ sư đã phát vào lưng ngựa một chưởng làm nó hí lên một tiếng khủng khiếp rồi ngã khụy xuống đất. Chẳng bao lâu sau nó sùi bọt mép và chết hẳn.

Người Nga biết mình không địch lại vị võ sư này nên nhân lúc nhốn nháo đã thu gọn hành trang lẩn đi mất dạng.

Người ta xem xét xác ngựa thì bên ngoài chẳng thấy thương tích gì nhưng khi mổ phanh ra mới hay là gan ruột con ngựa đã bị nát bấy vì phát chưởng của Cố Mi Chương. Bấy giờ người ta mới biết vị võ sư đã dùng môn võ học âm kình thượng thừa để giết con ngựa, bảo vệ danh dự xứ Quảng. Trong trường hợp này, nếu dùng Dương kình đả thương ngựa thì bên ngoài tất có dấu vết dập bể mà bên trong xương cốt ngựa cũng bể nát. Xem thế mới biết âm kình rất đỗi lợi hại khó đo lường.

Những chứng nghiệm nội công ở Việt Nam


Cũng tài liệu nói trên có kể chuyện võ sư Hàng Thanh từng để mềm cánh tay mà 6, 7 người có sức lực cũng không bẻ gập lại được: “Một ví dụ là Giáo sư Hàng Thanh, đệ nhị đại đồ đệ của Thiện Tâm Thiền sư, hiện mang đẳng cấp đệ thất đẳng huyền đai, lúc gặp chân sư thì đã gần 30 tuổi, thế mà sau 6 năm tu tập môn khí công đã chứng nghiệm được kết quả đáng kinh ngạc: cánh tay của Giáo sư đưa ra mềm mại không dẫn lực thế mà 6, 7 người có trình độ vẫn không thể làm cho cánh tay gập lại. Chúng tôi đã được Giáo sư biểu diễn cho xem trong kỳ đại hội của Tổng hội Dịch Lý Việt Nam năm 1972”.

Một câu chuyện khác do võ sư Lý Băng Sơn kể đã được đăng lên báo. Đó là câu chuyện ông đến thử cố võ sư Trần Công. Nghe tiếng cụ Trần Công là người có nội công thâm hậu, có thể phóng khí chữa bệnh, võ sư Băng Sơn chủ tâm đến thử xem sao.

Vào một ngày, ông lấy côn tự đập vào tay trái mình cho bầm tím rồi đến nhờ cụ Trần Công chữa trị cho. Nhìn vết thương, cụ Trần Công cũng đoán được ý nên bảo: “Ông muốn ta phóng khí chữa vết thương phải không, được rồi, ông cứ ngồi nguyên đó, ta sẽ chữa cho”.

Sau khi vận khí, lão võ sư Trần Công đặt tay cách chỗ sưng của võ sư Băng Sơn khoảng 1 gang tay và bắt đầu phóng khí chữa bệnh. Chỉ sau 3 phút, võ sư Băng Sơn thấy tay mình không còn đau đớn nữa như thể chưa hề có cú đập. Ông hết sức kinh ngạc về điều đó.


Võ sư Trần Công. 


Ngoài ra, ở Việt Nam còn có một huyền thoại nội công nữa là cố võ sư Hà Châu với khả năng nằm cho xe lu gần 20 tấn cán qua. Với khả năng ấy, võ sư Hà Châu được xếp vào 1 trong 3 kỳ nhân võ thuật thế giới. Trong những năm của thập kỷ 70, võ sư Hà Châu đã nhiều lần biểu diễn khả năng đặc dị của mình ở miền Nam Việt Nam.

Những câu chuyện kể trên, nhất là các câu chuyện ở Việt Nam, thời gian không xa xôi gì và cũng còn cả ảnh, video hoặc các nhân chứng vẫn còn. Do vậy, có thể thấy là chuyện nội công hoàn toàn là một năng lực của con người chứ không phải chỉ có trong phim ảnh. Dĩ nhiên để luyện thành tựu nội công thì còn cả một quá trình gian khổ trần ai.

Thứ Hai, 6 tháng 10, 2014

Những hòn đảo bí ẩn đáng sợ nhất thế giới

Dù ẩn chứa nhiều câu chuyện bí ẩn đáng sợ nhưng đảo chết chóc, đảo tàu đắm hay đảo búp bê... đều thu hút được nhiều khách du lịch. 

Đảo búp bê (La Isla de las Munecas)


Đảo La Isla de las Munecas nằm trên kênh Xochimico, gần thành phố Mexico nổi tiếng là hòn đảo của những con búp bê rùng rợn nhất thế giới.


Đảo La Isla de las Munecas là hòn đảo của những con búp bê rùng rợn nhất thế giới.

Người khai sinh cho đảo búp bê là ông Don Julian, chủ sở hữu hòn đảo và cũng là người đi rao giảng “Lời của Chúa” trên đường phố Mexico.

Năm 1950, sau khi cô con gái nhỏ tuổi bị chết đuối tại một con kênh ở gần đảo, ông đã treo búp bê lên các cành cây nhằm xua đuổi ma quỷ.

Sau đó không lâu, chính Julian cũng chết đuối tại chính con kênh ấy. Kể từ đó, cậu con trai của ông đã duy trì việc treo búp bê.

Đảo rắn (Ilha de Queimada Grande)

Người ta ước tính có khoảng 2.000 - 5.000 con rắn sống trên đảo Ilha de Queimada Grande, trong đó loài rắn độc nhất thế giới Golden Lancehead Viper (rắn hổ lục đầu vàng) cũng có mặt.

Nọc độc loài rắn hổ lục đầu vàng có khả năng làm tan xác thịt con người.

Nọc độc của chúng có khả năng làm tan xác thịt con người. Hải quân Brazil đã ra lệnh cấm tuyệt đối, trừ các nhà khoa học, không ai được phép đặt chân đến đảo để đảm bảo an toàn.

Hòn đảo chết chóc Isola La Gaiola

Đảo Gaiola (tên tiếng Ý: Isola La Gaiola) nằm ở ngoài khơi thành phố Naples (Italia) bao gồm 2 hòn đảo nhỏ nối với nhau bằng một cây cầu ngắn và hẹp.

Hòn đảo chết chóc Isola La Gaiola.

Vốn nổi tiếng với cảnh sắc tuyệt đẹp nhưng Gaiola lại biến thành nỗi ám ảnh của nhiều người sau những cái chết bí ẩn của chủ sở hữu hòn đảo.

Theo người dân kể lại, lời nguyền bắt đầu từ những năm 1920. Chủ sở hữu hòn đảo khi đó là ông Hans Braun được tìm thấy đã chết, thi thể ông bọc trong một tấm thảm. Vài tháng sau, vợ ông cũng chết đuối ngoài biển.

Người chủ tiếp theo là ông Otto Grunback (Đức) qua đời vì một cơn đau tim trong ngôi biệt thự riêng.

Lời nguyền chết chóc của hòn đảo tiếp tục ám lên những chủ nhân sau đó, như doanh nhân dược phẩm Maurice-Yves Sandoz, ông trùm thép người Đức Baron Karl Paul Langheim...

Sau nhiều cái chết “bất đắc kỳ tử”, hòn đảo bị bỏ hoang và không một ai dám bén mảng tới ngoại trừ các nhà thám hiểm.

Đảo tàu đắm và ngựa hoang (Đảo Sable)

Hòn đảo nằm cách bờ biển Nova Scotia hơn 160km được mệnh danh là “Nghĩa địa của Đại Tây Dương”.

Mặc dù chỉ có kích thước 42km x 1,5km nhưng đảo Sable lại có tới 475 xác tàu đắm.


Mặc dù chỉ có kích thước 42km x 1,5km nhưng nơi đây lại có tới 475 xác tàu đắm. Sable cũng là địa bàn của hơn 400 con ngựa hoang sống sót từ những vụ đắm tàu.

Trên đảo không hề có cây cối, chỉ có tảo biển và nước mưa là nguồn lương thực chính của lũ ngựa.