Tổng số lượt xem trang

Thứ Năm, 13 tháng 3, 2014

6000 tấn vàng - bí mật “động trời” nhất thế kỷ XX

Bí mật bị che giấu về kho vàng 6.000 tấn "Kim Bách Hợp" của Nhật Bản xứng đáng là bí mật động trời nhất thế kỷ XX. Vì sao vậy?

Đầu thế kỷ XX, Nhật Bản từng là đế chế phát xít hùng mạnh ở châu Á. Tuy nhiên, sau khi thất bại trong Chiến tranh Thế giới thứ II, Nhật Bản lâm vào hoàn cảnh cực kì khó khăn.

Dẫu vậy, Nhật Bản chỉ mất 7 năm để phục hồi nguyên khí, vươn lên cường thịnh và lọt vào top các nước phát triển hàng đầu thế giới. Không thể phủ nhận đó là nhờ vào sự nỗ lực tự thân của một dân tộc đặc biệt nhưng đằng sau đó, ít người biết đến những bí ẩn động trời bị che dấu.

Tiết lộ trong tác phẩm “Những chiến binh vàng” (Gold Warriors)


Đây là tác phẩm đã tiết lộ bí mật động trời của vương triều Đại Hòa (Nhật Bản) trong thế kỷ XX. Tác phẩm ra đời năm 2005 bởi 2 vợ chồng nhà văn Sterling Seagrave và Peggy Seagrave nung nấu sáng tác trong suốt 18 năm. Đây là quãng thời gian mà 2 nhà văn thu thập thông tin, tiếp xúc với hàng loạt tài liệu mật, phỏng vấn hơn 1.000 giờ với nhiều người, trong đó có những nhà chính khách và cả cựu tình báo CIA…

Để hoàn thành cuốn sách, Sterling và Peggy đã phải đối mặt với biết bao hiểm nguy, thậm chí nhiều lần bị truy sát và phải sống ẩn cư ở ngoại ô nước Pháp. Đến nay, sách được xuất bản, dịch ra nhiều thứ tiếng khác nhau và là đề tài cho nhiều nhà nghiên cứu trong việc xác minh tính đúng đắn của tư liệu trong sách.

Trong đó, một trong những bí ẩn lớn nhất mà cuốn sách đề cập đến chính là Kim Bách Hợp - kho báu mà thiên hoàng Nhật Bản đã gây dựng trong Thế chiến II.

Kế hoạch “Kim Bách Hợp” và 6.000 tấn vàng…

Trong thời kì Chiến tranh Thế giới thứ II, Nhật Bản là một đế chế phát xít hùng mạnh nhất ở châu Á. Với tham vọng bá chủ của mình, Thiên hoàng Hirohito (Chiêu Hòa) cùng những người đứng đầu nước này đã đề ra một kế hoạch động trời với cái tên “Kim Bách Hợp”.

Nội dung kế hoạch chính là thu thập, chiếm giữ tất cả vàng bạc của 12 nước châu Á mà Nhật Bản chiếm đóng trong Thế chiến và vận chuyển về Nhật Bản. Kế hoạch này được đích thân Thiên hoàng và em trai của ông chỉ huy.


Điểm đầu tiên của kế hoạch này chính là ở Trung Quốc, đất nước giàu có bậc nhất về tài nguyên châu Á. Tại thành Nam Kinh trù phú, phát xít Nhật với các đội chiến binh đặc biệt đã tổ chức cướp phá có hệ thống, lấy danh nghĩa tịch thu tài sản chính phủ Trung Quốc, cướp bóc rất nhiều vàng bạc châu báu đá quý của các thương nhân tại đây.

Nếu số liệu trong “Những chiến binh vàng” chính xác thì chỉ riêng ở Nam Kinh, phát xít Nhật đã thu được hơn 6.000 tấn vàng cùng hàng loạt tiền mặt và tác phẩm nghệ thuật giá trị. Số châu báu kể trên được quân Nhật tập trung lại, nấu chảy và đúc thành những khối vàng kích thước 1 tấc trước khi đưa về chính quốc.

Tuy nhiên trong thực tế, khi chiến tranh sắp kết thúc, vẫn còn một lượng vàng nhất định không kịp chuyển về Nhật, kết quả là được chôn ở nhiều quốc gia hoặc mãi mãi chìm dưới đáy biển trong các vụ đắm tàu có chủ ý.

Những vòi xúc tu của con bạch tuộc khổng lồ…

Kế hoạch “Kim Bách Hợp” tiếp tục vươn những vòi xúc tu của nó ra khắp các nước Đông Nam Á.

Tại Kuala Lumpur, quân Nhật chiếm được rất nhiều vàng thỏi loại 23,97K, mỗi thỏi nặng 6,25kg. Tại Campuchia, một lượng tượng phật bằng vàng và vàng thỏi lớn, mỗi thỏi có kích thước 15,5 x 5 x 3,7cm, độ vàng ròng là 92,3% bị quân Nhật chiếm.

Tại Myanmar, cả ngàn tấn vàng bị cướp đoạt và được nấu chảy, đúc thành vàng thỏi 20K, hình tam giác, nặng 6,2kg. Tại quốc khố của Philippines lúc ấy có 51 tấn vàng, 32 tấn bạc thỏi, 140 tấn bạc giấy và 2,7 tỉ tiền công trái của Bộ Tài chính Hoa Kì cùng một lượng lớn đá quý. Trừ lượng tiền giấy ra, còn lại đều bị quân Nhật “tận thu”.

Vàng được bí mật chuyển về Nhật Bản hầu hết bằng đường biển.

Phần lớn những của cải chiếm được từ Đông Á và Đông Nam Á trong kế hoạch “Kim bách hợp” được chuyển về Nhật Bản từ Triều Tiên. Nhưng từ năm 1943, tàu ngầm của Mĩ đã phong tỏa toàn bộ đường biển nên quân Nhật chỉ có thể vận chuyển số vàng bạc châu báu còn lại đến Philippines mà thôi.

Dưới sự giám sát của các thành viên hoàng gia Thiên hoàng, tướng Yamashita đã chỉ huy kế hoạch xây dựng “175 kho báu hoàng gia” tại Philippines. Đầu tháng 6/1945, tại một căn hầm lớn chứa đầy vàng có tên là “đường hầm số 8”, ở sâu dưới lòng đất, buổi đại tiệc từ giã 175 nhà thiết kế của 175 kho báu được bắt đầu. Đến nửa đêm, tướng quân Yamashita và các thành viên hoàng gia nhanh chóng rời khỏi căn hầm ra ngoài, đồng thời tại đường thông ra bên ngoài, hàng khối thuốc nổ đã chuẩn bị sẵn được điểm hỏa.

Tất cả các nhà thiết kế kho tàng và nhân viên tham gia xây dựng đều bị chôn vùi. Chỉ duy nhất có một người Philippines tên là Ben Valmores, vốn là nô bộc của Takeda Tsuneyoshi - thành viên hoàng gia giám sát việc xây dựng các kho tàng ở Philippines, đã được chủ nhân động lòng cho thoát ra ngoài từ đường hầm số 8 ngay khi phát nổ. Ben Valmores đã gần 80 tuổi, kể lại với Sterling và Peggy những gì mình trải qua trong thời gian 1943 - 1945.

Bí mật bị bại lộ…


Kế hoạch “Kim Bách Hợp” khi gần như đã hoàn thành được mục tiêu ban đầu đề ra của nó thì cũng là lúc bị bại lộ. Sau khi tướng quân Yamashita bị bắt và xử như một tội phạm chiến tranh, ngày 2/9/1945, tình báo Mĩ quyết định khai thác người lái xe của Yamashita trước đây.

Việc này được tiến hành bí mật và cuối cùng, sau khi thẩm vấn, tháng 10/1945, một số địa điểm nghi ngờ là nơi chứa kho báu đã thuộc về tay quân đội Mĩ. Sự việc đã được báo lên cho tướng J. McCloy và Tổng thống Truman. Một kế hoạch khai quật được bí mật tiến hành. Tháng 11/1945, McCloy, Lansdale bí mật bay đến Manila thị sát kho vàng mà Santa đã mở.

Một hầm vàng được tìm thấy ở Philippines.

Chỉ tính riêng ở đây, số vàng đã có giá trị vài chục tỉ USD. Số vàng này sau đó đã được gửi cẩn thận tại 172 tài khoản thuộc 42 ngân hàng lớn trên thế giới.

Sự việc còn tiếp diễn khi năm 1975, Tổng thống Philippines là Marcos đã khai quật được một kho gồm toàn vàng thỏi có giá trị 8 tỷ USD. Macos cùng hai người Nhật Bản và đại diện Chính phủ Mĩ đã cùng nhau chia số tài sản khổng lồ này.

Đáng kinh ngạc hơn, theo tài liệu mà “Những chiến binh vàng” đưa ra, số lượng vàng mà Nhật Bản đã chiếm được đủ để mua cả thế giới này, cỡ khoảng hàng vạn tỉ USD, liệu bạn có tin nổi không?

Đảo Penang - Malaysia từng là trạm trung chuyển trong kế hoạch "Kim Bách Hợp".

Đến trước khi “Những chiến binh vàng” được công bố, mọi thông tin trên đều chưa có một mối liên hệ cụ thể nào nhưng giờ đây có lẽ mọi chuyện đã rõ ràng hơn. Tuy nhiên, những kho báu trong kế hoạch “Kim Bách Hợp” đã hết hay chưa và đang nằm ở đâu có lẽ vẫn sẽ nằm trong bức màn bí mật nhiều năm nữa.

Bí ẩn về kho báu này xứng đáng là bí mật động trời lớn nhất trong lịch sử thế giới thế kỷ XX.

Thứ Ba, 11 tháng 3, 2014

Lý giải sự “lắm điều” ở đàn bà

Có nghiên cứu cho rằng, nữ giới có nhiều protein ngôn ngữ và khả năng xúc cảm cũng vượt trội đàn ông, đó là lý do khiến họ trở nên "lắm điều".

Đàn bà mỗi ngày nói khoảng 20 ngàn từ trong khi đó đàn ông chỉ khoảng 7 ngàn từ. Có nghiên cứu chỉ ra rằng, đó là do nữ giới có nhiều protein ngôn ngữ. Khả năng xúc cảm của đàn bà cũng vượt trội đàn ông và đó cũng là một trong những lý do khiến họ trở nên "lắm điều".

Nói nhiều hơn nam giới tới... 13.000 từ/ngày


BS Hoàng Xuân Đại cho biết, theo nghiên cứu của một số nhà khoa học Mỹ với nữ giới, họ phát hiện có một "protein ngôn ngữ" đặc biệt trong não bộ vì thế ta thường thấy phụ nữ thường nói nhiều hơn đàn ông. Chính thế mà các cụ xưa vẫn nói: "Chỉ cần 3 người nữ tụ họp cùng nhau, thêm vài con vịt nữa là thành chợ".

Theo nghiên cứu của các chuyên gia thần kinh và tâm lý học đến từ trường Đại học Maryland (Mỹ), não phụ nữ có chứa nhiều protein Foxp2 hơn so với não của đàn ông. Foxp2 là loại protein tập trung trong một vùng não đóng vai trò chủ chốt đối với hoạt động ngôn ngữ của con người. Điều này hoàn toàn ngược lại ở chuột, vì lượng "protein ngôn ngữ" được phát hiện tồn tại nhiều hơn trong não của các con đực.

Thông qua các thí nghiệm của mình, nhóm nghiên cứu nhận thấy, những con chuột đực "lắm mồm" hơn chuột cái vì sở hữu lượng protein Foxp2 cao gấp 2 lần trong bộ não. Tuy nhiên, ở người, đàn ông dường như "kiệm lời" hơn vì có lượng protein này thấp hơn tới 30% so với phụ nữ. Kết quả nghiên cứu mới đã giúp lý giải căn nguyên cho một phát hiện trước đó rằng, phụ nữ thường nói khoảng 20.000 từ mỗi ngày, nhiều hơn nam giới tới... 13.000 từ.

GS Margaret McCarthy, người đứng đầu nghiên cứu cho rằng, đây là một trong những nghiên cứu đầu tiên báo cáo về sự khác biệt giới tính trong biểu hiện của một protein có liên quan đến ngôn ngữ ở người và động vật. Sự khác biệt giới tính trong não và hành vi phổ biến hơn và được hình thành sớm hơn phỏng đoán trước đây của chúng ta. FOXP2 đóng vai trò như một thành phần sinh lý học, tạo nên sự khác biệt giới tính trong giao tiếp bằng âm thanh ở động vật có vú.

khi dẫm vào vật dính.

Nói nhiều hay ít là do gen quy định

GS Lê Đình Lương, Tổng Thư ký Hội Di truyền học Việt Nam cho biết, sự khác biệt của nam và nữ là do tạo hóa. Nhưng ở người, không có biểu hiện nào là không liên quan đến gen.. Phụ nữ nói nhiều, phụ nữ nông cạn, hời hợt... có một phần là biểu hiện của gen.

Theo GS Lê Đình Lương, việc nói nhiều hay nói ít ở đàn ông hay đàn bà không liên quan gì đến việc đàn ông hay phụ nữ thông minh hơn. Do vậy, câu nói: "Đàn ông nông nổi giếng khơi, đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu" không liên quan đến tần suất nói của đàn bà.

Thực tế, những khác biệt giữa hai giới cần có những nghiên cứu rất sâu mới có thể kết luận được. Tuy nhiên, yếu tố gen + môi trường sẽ bằng biểu hiện ra bên ngoài của mỗi con người. Ví dụ như trí thông minh, nếu không có môi trường, không được giáo dục, rèn giũa thì gen đó cũng không biểu hiện được thành tính trạng nổi trội. Hoặc là khả năng lãnh đạo, quản lý, cũng là có yếu tố gen tác động, nhưng cũng phải có điều kiện ngoại cảnh, được nuôi dưỡng, được trau dồi thì mới phát triển được. Do vậy, khả năng nói nhiều cũng liên quan rất nhiều đến yếu tố môi trường, công việc, quan niệm sống của xã hội mà được hình thành.

Nói nhiều do giác quan nhạy bén hơn đàn ông

Theo ThS Thạch Mai Hoàng, Bộ môn Nhân học, Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội, về mặt sinh học, phụ nữ "lắm điều" có thể là do họ mạnh về một số giác quan: thính giác, thị giác, xúc giác. Do vậy, họ khá nhạy bén trong việc cảm nhận và quan sát tỉ mỉ các sự vật hiện tượng hơn đàn ông. Nói cách khác, đa số phụ nữ hay để ý tới những chi tiết hơn là tổng thể vì họ nạp quá nhiều thông tin như vậy vào bộ não. Phụ nữ có thiên chức sinh nở và nuôi dưỡng con cái nên có nhiều công việc hàng ngày vụn vặt hơn đàn ông, vì thế mà họ hay để ý tới nhiều sự kiện nhỏ.

Còn về sự khác biệt trong cấu tạo não bộ thì cũng đã có nhiều nghiên cứu được đặt ra. Đàn ông thiên về tư duy lý tính, phụ nữ thiên về tư duy xúc cảm, đó là sự khác nhau cơ bản giữa hai giới dẫn tới những biểu hiện bề ngoài như chúng ta vẫn nhìn thấy. Theo BS Hoàng Xuân Đại, nguyên chuyên viên Bộ Y tế, được sản xuất ngay từ nhỏ từ tuyến sinh dục, các hormon tác động lên một loạt các đặc trưng cơ thể. Nhưng nó cũng tác động lên thái độ của từng giới. Người ta có thể quan sát thấy rằng, các cô bé bị tăng sản bẩm sinh tuyến thượng thận, một căn bệnh có nguyên nhân từ sự phơi nhiễm mạnh testosterone trong quá trình phát triển trước khi sinh, hành xử giống như các cậu bé: Hung hăng hơn, quan tâm đến thể thao và các trò chơi dành cho các cậu bé.

Một số khác biệt thú vị về giới

Không chỉ khác nhau về sự lắm điều, giữa đàn ông và đàn bà còn có khá nhiều khác biệt thú vị. Chẳng hạn khi đàn ông nắm tay lại, ngón cái sẽ ở đốt trên của ngón trỏ và ngón giữa. Còn ở phụ nữ, ngón cái sẽ nằm giữa hai ngón tay mà không cần gập, động tác đó làm cho nắm đấm của họ nhìn rất buồn cười. Hay lúc phụ nữ viết, đốt trên của ngón trỏ và ngón giữa đặt trên bút nên chúng cong không tự nhiên. Ngược lại, đàn ông giữ cho các ngón tay luôn thẳng khi cầm bút.

Nếu người đàn ông giẫm phải một thứ ướt ướt, dính dính, anh ta sẽ gập đầu gối, đưa chân lên trước và quay bàn chân để xem cái gì dính vào đế giày. Phụ nữ khi rơi vào tình huống bất lợi như vậy cũng gập đầu gối nhưng đưa chân ra sau và nhìn đế giầy qua vai. Phụ nữ cũng thường làm như vậy khi... hôn.

Phụ nữ hay ngồi xổm để lấy vật gì đó trên sàn nhà, trong khi đàn ông lại gập người xuống. Khi cười rúc rích, phụ nữ thường lấy tay che miệng để đề phòng các con vật nhỏ bay vào. Họ cũng có thể ngả đầu ra sau một chút lúc cười lớn hơn. Còn đàn ông không sợ vật thể bay lạ cũng như chẳng nghiêng đầu theo hướng nào khi cười.

Khi ngồi, đàn ông duỗi đầu gối để chứng tỏ với mọi người anh ta là nam giới 100%. Còn phụ nữ không bao giờ phải làm như vậy vì chỉ nhìn, người ta cũng biết đấy là phụ nữ. Phụ nữ hoàn toàn thấy bình thường khi mặc những chiếc quần chíp có dây mỏng mảnh, nhưng đàn ông có thể khó chịu đến chết nếu phải chịu đựng một chiếc dây kiểu đó ở giữa "hậu phần".

Phái yếu thích di chuyển các ngón tay lên xuống trên chân đế ly nước khi uống. Đàn ông có xu hướng chộp ngay cái cốc uống cạn và không hề mang vẻ trầm ngâm trong lúc uống. Kể cả khi đói bụng, phụ nữ cũng sẽ cắn từng miếng nhỏ bánh. Còn đàn ông khi đói sẽ ăn ngấu nghiến miếng bánh đó càng nhanh càng tốt. Và cho dù có no đi nữa, anh ta cũng không bao giờ cắn miếng nhỏ vì chỉ thích cho miếng to vào miệng để được nhai chứ không phải nhấm nháp.

- Các chuyên gia tâm thần học kết luận, đàn ông mất nhiều thời gian hơn để đánh giá những biểu cảm trên khuôn mặt của người khác do não của họ phải làm việc gấp đôi thời gian so với phụ nữ nhằm xác định đối tượng trông thân thiện hay thông minh. Theo các nhà nghiên cứu đến từ Đại học Edinburgh (Vương quốc Anh), điều đó đã xác thực quan điểm lâu nay về khả năng "thấu cảm, biểu đạt cảm xúc và xử lý các kích thích xã hội" của cả 2 giới.

- Phụ nữ tỏ ra phản ứng nhanh hơn đàn ông đối với các cảm xúc được tiếp cận trong khi đàn ông vất vả nhất trong việc "đọc" về các cảm xúc. Đàn ông đã phát triển các chiến lược để đối phó với sự thấu cảm kém hơn của họ bằng cách hoạt hóa tích cực những khu vực đọc tín hiệu xã hội trong bộ não.

Thứ Hai, 10 tháng 3, 2014

Chiến thuật “hiểm” của bộ đội VN khiến Mỹ “ớn” nhất

Sau 8 năm trực tiếp chiến đấu ở chiến trường VN, lính Mỹ nhận ra những trận đánh giáp lá cà và cái chết đến từ lưỡi lê là điều mà họ ớn nhất.

Những cái chết bằng lưỡi lê


Quân Mỹ lắm bom nhiều pháo. Giao chiến với bộ binh Mỹ không đơn giản như với quân Pháp vì hỏa lực nhiều tầng nhiều lớp của họ. Trên không có máy bay ném bom, dưới đất là súng đạn của binh lính và bất thần đạn pháo từ những nơi rất xa câu đến theo tọa độ rất chính xác.

Ngay những lần đối mặt đầu tiên, chỗ mạnh và chỗ yếu của quân Mỹ đã được những người lính Việt Nam nhận thức rõ ràng. Trong cuốn hồi ký Chiến trường mới của Thượng tướng Nguyễn Hữu An có ghi lại nhận định của những người lính sau lần đầu tiên giáp mặt quân Mỹ.

Nhân dịp kỷ niệm 38 năm Ngày giải phóng hoàn toàn Miền Nam (30/4/1975 - 30/4/2013), Kiến Thức xin giới thiệu tới độc giả loạt bài "Lật lại hồ sơ chiến tranh Việt Nam" với những thông tin đầy đủ, sinh động và giàu giá trị tham khảo. Loạt bài sẽ được đăng tải liên tục từ 26/4 - 1/5/2013. Kính mời độc giả theo dõi, đón đọc.

Hồi ký viết: “Anh Chu Huy Mân gặp một số chiến sĩ từ trận đánh trở về, anh hỏi: các cậu thấy đánh Mỹ có đặc điểm gì? Anh em không nhận ra vị tướng của mình, vì anh không đeo quân hàm và không ai giới thiệu nên họ nói năng thoải mái. Một chiến sĩ nói: đánh nhau với bọn bộ binh Mỹ cũng dễ thôi, nhưng nó lắm máy bay, lắm bom, lắm pháo quá, không lúc nào ngớt, nhức đầu nhức óc”.

Lý thuyết tác chiến Mỹ cho rằng, mỗi khi đội quân của họ bị đối phương dồn ép, họ sẽ dùng máy bay ném bom, pháo bắn tới tạo thành một bức tường lửa để ngăn cản đối phương. Trong thời gian đó, bộ binh của họ sẽ tranh thủ củng cố lại thế trận để phản công giành lại chủ động và kết thúc trận đánh.

Ngược lại, quân ta vũ khí hạng nặng ít hơn. Hoàn toàn không có máy bay ném bom, pháo bắn yểm trợ cũng rất ít. Do đó, người lính trên chiến trường chủ yếu trông vào chính vũ khí nhẹ của mình và đồng đội. Nếu so sánh về vũ khí trang bị theo sách vở thì các đội quân của ta chẳng bao giờ dám đương đầu với bộ binh Mỹ.

Tuy nhiên, quân ta nhanh chóng nhận ra rằng, đánh giáp lá cà với lưỡi lê và lựu đạn là một sách lược có lợi để đối phó với tình hình. Lối đánh này của quân ta đã có truyền thống từ cuộc kháng chiến 9 năm chống Pháp và là một trong những nỗi ám ảnh với lính Pháp. Trong hồi ký về Điện Biên Phủ, đại tướng Võ Nguyên Giáp đã dẫn lời khai của những tên tù binh Pháp ở Điện Biên nói rằng, trong những cái chết ở chiến trường, binh lính của họ sợ nhất là chết bằng lưỡi lê khi đối mặt với Việt Minh. Giờ đây, nỗi kinh hoàng ấy, người Mỹ lại tiếp tục được nếm trải.

Quan trọng hơn, lối đánh gần giúp hạn chế tác dụng của bom pháo Mỹ. Khi quân hai bên ở quá gần nhau, việc ném bom sát thương vào bất kỳ khu vực nào cũng đều gây ra thương vong cho cả hai phía.

Ngay trong trận đụng độ lớn đầu tiên giữa lính Mỹ và quân chính quy của ta ở thung lũng Ia-Drang vào tháng 11/1965, lối đánh này đã khiến quân Mỹ lúng túng. Hồi ký của tướng An viết: “Sau khi dùng hỏa lực súng cối chế áp ngắm vào đội hình địch, quân ta dũng cảm đồng loạt xung phong chia cắt đội hình và đánh giáp lá cà với địch. Cả đôi bên lúc này đội hình xen kẽ nhau đến độ chỉ cho phép dùng tiểu liên bắn găm, dùng lưỡi lê, lựu đạn mà chiến đấu”.

Lính Mỹ trong trận Ia-Drang. Ảnh: Awesomestories.com. 

Ở phía bên kia, ký giả Gallo Way, người đi cùng đơn vị lính Mỹ mô tả về lối đánh hiểm của đối phương: “Tình hình đã xấu lại trở nên xấu hơn. Đến bây giờ quân Bắc Việt Nam đã có mặt ngay trong hàng ngũ quân Mỹ và trên các ngọn cây cao. Bất cứ ai vận động lên đều bị bắn chết. Thiếu tá Henri và trắc thủ pháo binh đã cố gắng dùng điện đài của họ để gọi pháo binh và không quân chi viện. Điều này làm giảm bớt sự chết chóc, nhưng với đội hình kéo dài hơn 100 Yard giữa bãi cỏ cao rậm thì các quả đạn pháo và napan sát thương quân Bắc Việt Nam đồng thời cũng sát thương cả quân Mỹ”.

Chứng minh cho điều này, vào năm 1993, tướng Harold Moore, người trực tiếp chỉ huy đơn vị tham chiến trong trận Ia-Drang khi trở lại thăm chiến trường, đã chỉ cho tướng Nguyễn Hữu An vị trí mà 2 quả bom Napan của không quân Mỹ đã ném đúng đội hình bộ binh Mỹ khiến nhiều lính Mỹ chết cháy.

Trong toàn bộ cuộc kháng chiến chống Mỹ, chiến thuật đánh gần được toàn quân ta vận dụng vào mọi trận đánh dù là chiến đấu trên bộ hay trên không. Lối đánh đó được tóm tắt trong phương châm nổi tiếng “nắm thắt lưng địch mà đánh”.

Những cái chết bất thình lình

Mặc dù cái chết đến từ từ trong đau đớn khi dính phải lưỡi lê của đối phương đã ghê gớm nhưng ít ra lính Mỹ ở ngoài chiến trường còn nhìn thấy được nguyên nhân. Trong khi đó, nhiều trường hợp viên chức, sĩ quan Mỹ đã chết ngay giữa Sài Gòn và các thành phố lớn khác mà không kịp hiểu nguyên nhân. Những cái chết bất thình lình đó mới là điều đáng sợ nhất khi người Mỹ đến Việt Nam.

Kẻ gây ra nỗi ám ảnh đó, không ai khác chính là Biệt động Sài Gòn. Theo thống kê sơ lược, trong suốt cuộc chiến, Biệt động đã liên tục tấn công hàng nghìn trận, gây thương vong cho hàng chục nghìn lính và quan chức Mỹ và cả đám tay sai ác ôn của chúng.

Với những trận đánh được nêu trong cuốn Biệt động Sài Gòn – Những chuyện giờ mới kể, ta thấy nét đặc trưng của Biệt động là lối đánh bí mật, bất ngờ. Giữa một thành phố vài triệu dân, Biệt động bình thường như bất kỳ ai. Họ âm thầm nghiên cứu các mục tiêu và nghĩ ra các kế hoạch tấn công vượt ra ngoài mọi sự dự liệu của kẻ địch.

Trận tấn công vào cư xá Brink nơi đóng hàng ngàn sĩ quan Mỹ trong dịp Giáng sinh năm 1964 là một ví dụ. Những chiến sĩ Biệt động đóng giả sĩ quan Sài Gòn để mang một ô tô chứa hơn 100 kg thuốc nổ vào trong gầm tòa cư xá rồi đặt kíp nổ và đàng hoàng đi ra ngoài. Trận đánh này đã khiến 175 trong số hơn 200 sĩ quan Mỹ có mặt ở cư xá thương vong. Tòa cư xá đồ sộ bị thổi rỗng 3 tầng dưới.

Cũng có khi chiến sĩ Biệt động táo bạo đánh vào những nơi được bảo vệ nghiêm ngặt nhất như Tòa Đại sứ Mỹ tháng 3/1965 hoặc trận đánh vào trụ sở Tổng nha Cảnh sát của chính quyền Sài Gòn tháng 8/1965. Những trận này, Biệt động bất thần ập vào mục tiêu kích nổ khối thuốc đặt trên ô tô rồi rút lui ngay trước mắt đông đảo cảnh sát, mật vụ của Sài Gòn.

Ngoài ra, bất kỳ ở nơi đâu: trên phố, trong quán ăn, rạp hát… lính Mỹ đều là mục tiêu tấn công của Biệt động bằng lựu đạn, mìn khiến bọn chúng luôn nơm nớp lo sợ. Với những tên tay sai đắc lực hoặc những tên chỉ điểm đầu hàng, nhiều lúc Biệt động đột nhập hẳn vào nhà riêng, đọc lệnh tử hình của Cách Mạng và kết liễu rất gọn gàng.

Những phi vụ của Biệt động Sài Gòn khiến từ tướng tá đến binh lính Mỹ không bao giờ yên tâm mặc dù ở ngay trong trụ sở hay căn cứ được bảo vệ nghiêm ngặt của mình. Đến nỗi, các lính Mỹ phải thốt lên rằng, ở xứ sở này, cái chết có thể đến bất kỳ lúc nào, ở bất kỳ đâu.

Chủ Nhật, 9 tháng 3, 2014

Tiết lộ thú vị: Vì sao đế chế La Mã sụp đổ?

Đế chế La Mã hùng mạnh một thời sụp đổ vì nhiều lý do, trong đó nguyên nhân nổi bật là tham nhũng, cuộc xâm lược của các bộ tộc man rợ...

1. Cuộc xâm lược của các bộ tộc man rợ


Lực lượng quân sự La Mã đã chịu tổn thất nặng nề khi chống lại các thế lực bên ngoài. Thành Rome đã phải đương đầu chống lại các cuộc tấn công của bộ lạc Đức trong nhiều thế kỷ. Trong số đó, 300 nhóm người "man rợ" lấn chiếm khu vực gần biên giới của Đế chế La Mã.

Người La Mã đã vượt qua một cuộc tấn công của các bộ lạc Đức vào cuối thế kỷ 4. Tuy nhiên, đến năm 410, vua Alaric của Visigoth đã tổ chức thành công cuộc cướp phá thành Rome. Trong nhiều thập kỷ sau đó, đế chế La Mã liên tiếp bị đe dọa tấn công trong nhiều thập kỷ.

Đến năm 455, “thành phố vĩnh cửu” này bị người Vandals tấn công. Cuối cùng, vào năm 476, các nhà lãnh đạo Odoacer của Đức tổ chức một cuộc nổi dậy lật đổ sự thống trị của Hoàng đế Romulus Augustulus. Từ đó trở về sau, không có hoàng đế La Mã nào cai trị ở vùng đất Italy. Năm 476 là năm đế quốc Tây La Mã sụp đổ.

2. Những rắc rối liên quan đến vấn đề về kinh tế


Ngay cả khi thành Rome bị các thế lực bên ngoài tấn công thì đế chế này đã bị mục rữa từ bên trong do xảy ra một cuộc khủng hoảng tài chính nghiêm trọng. Những cuộc chiến tranh xảy ra liên tục và bội chi đã dẫn đến tình trạng kho bạc hoàng gia bị thâm hụt nặng. Điều đó dẫn đến tình trạng nhà nước thu nhiều loại thuế kèm theo đó là tình trạng lạm phát càng nới rộng khoảng cách chênh lệch giữa người giàu và người nghèo.
Với hy vọng trốn thuế, nhiều người thuộc tầng lớp giàu có đã chạy trốn đến vùng nông thôn và thành lập các lãnh địa độc lập. Đồng thời, đế chế La Mã còn bị rung chuyển do sự thiếu hụt nguồn lao động. Nền kinh tế của Rome chủ yếu phụ thuộc vào nô lệ khi tầng lớp này tham gia hoạt động sản xuất trên đồng ruộng và làm các công việc khác như thợ thủ công, tòng quân ra trận…

Khi các bộ tộc nước ngoài xâm lược La Mã, họ đã bắt được một số nô lệ và đánh chiếm được một số vùng lãnh thổ của đế chế hùng mạnh một thời. Do đó, nguồn cung lao động xuất thân từ nô lệ bị giảm sút. Với nền kinh tế sa sút, giao thương và sản xuất nông nghiệp suy giảm, đế quốc La Mã bắt đầu mất dần vị thế ở châu Âu.

3. Sự nổi lên của Đế quốc Đông La Mã

Vào cuối thế kỷ 3, Hoàng đế Diocletian chia đế chế La Mã thành hai phần lãnh thổ: Đế quốc Tây La Mã nằm ở thành phố Milan và Đế quốc Đông La Mã nằm ở Byzantium (sau này được gọi là Constantinople).
Theo thời gian, Đế quốc Đông và Tây La Mã đã không còn sự hợp tác bền chặt để chống lại các mối đe dọa đến từ bên ngoài cũng như họp bàn về nguồn lực và viện trợ quân sự. Đế quốc Đông La Mã – quốc gia nói tiếng Hy Lạp đã có sự phát triển kinh tế vượt trội và giàu lên nhanh chóng. Trong khi đó, Đế quốc Tây La Mã nói tiếng Latin lại rơi vào tình trạng khủng hoảng kinh tế. Điều quan trọng nhất là sức mạnh hùng hậu của Đế quốc Đông La Mã tập trung trên lĩnh vực chống lại cuộc xâm lược man rợ của các bộ lạc phương Tây. Hoàng đế Constantine và một số vị vua khác luôn chú trọng bảo vệ thành phố Constantinople.

Trong khi đó, thành Rome ở Italy là khu vực dễ bị tổn thương lại không được bảo vệ an ninh đúng mức. Hệ thống chính trị của Đế quốc Đông La Mã tồn tại trong hàng ngàn năm sau trước khi bị Đế chế Ottoman lấn át trong những năm 1400.

4. Tham nhũng và bất ổn chính trị

Trong thế kỷ 2, 3, những hoàng đế La Mã luôn phải đối mặt với tử thần và không ngồi yên trên ngôi báu vì nguy cơ có thể bị ám sát, lật đổ bất cứ lúc nào. Do xảy ra nội chiến, xã hội La Mã rơi vào tình trạng hỗn loạn nghiêm trọng. Chỉ trong vòng 75 năm, đế chế La Mã đã thay 20 đời hoàng đế. Và chính hoàng đế kế vị đã giết chết người trị vì đất nước trước đó.

Thậm chí, những lính hộ vệ làm nhiệm vụ bảo đảm an toàn cho hoàng đế cũng ra tay ám sát nhà vua theo hợp đồng với những người trả giá cao nhất. Tình hình chính trị La Mã mục nát lan cả đến Thượng viện La Mã. Những quan chức tại đây đã lợi dụng chức quyền và tình hình bất ổn để tham nhũng. Thậm chí, nhiều kẻ bất tài cũng được giao trọng trách quan trọng khiến tình hình La Mã ngày càng rối ren hơn. Theo thời gian, nhiều công dân La Mã đã dần mất lòng tin vào giới lãnh đạo.

Thứ Năm, 6 tháng 3, 2014

Vén màn thảm kịch ăn thịt người 400 năm trước

Mới đây, giới khảo cổ học đã tìm ra bằng chứng về một thảm kịch xảy ra ở châu Mỹ, cách đây hơn 400 năm…

Ăn thịt người không phải là một khái niệm quá mới mẻ. Khi bị đẩy tới giới hạn của sự sống và cái chết, phần “con” ở mỗi chúng ta có thể trỗi dậy bất ngờ.

Trong lịch sử nhân loại, những "vết đen" như thổ dân Aztec, thổ dân châu Âu ăn thịt người, chiếc bè của chiến thuyền Méduse… sẽ khó lòng gột rửa. Mới đây, giới khảo cổ học đã tìm ra bằng chứng về một thảm kịch xảy ra ở châu Mỹ, cách đây hơn 400 năm…

Từ những tài liệu lịch sử…

Sau khi C.Colombus tìm ra châu Mỹ, những dòng người di cư từ châu Âu đầu tiên bắt đầu tới châu lục này để khai phá, tìm kiếm tài nguyên và mở rộng thị trường.

Thực dân Anh là những người đi tiên phong. Năm 1607, những con tàu của người Anh cập bến cảng Chesapeake, Virginia. Họ tiến vào đất liền, định cư tại Jamestown, sau này trở thành thủ phủ bang Virginia.

Bản đồ Virginia thời xưa - vùng đất mà thực dân Anh đặt chân lên.

Những tưởng khu vực này an toàn và trù phú, có thể trở thành "bàn đạp" giúp thực dân Anh độc chiếm châu lục mới, nhưng sự thật diễn ra hoàn toàn ngược lại. Jamestown sở hữu điều kiện vô cùng khắc nghiệt và thách thức.

Diện tích quá rộng và hoang vắng, khu vực này có địa hình hiểm trở và khó đi săn. Đầm lầy ở đây tuy nhiều nhưng toàn nước lợ, không đủ cung cấp nước uống. Muỗi trở thành cơn ác mộng với thực dân Anh khi sinh sống ở đây, khi 135 người đã chết vì căn bệnh sốt rét quái ác.

Chưa hết, câu chuyện của George Percy (thuộc lớp người đầu tiên tới châu Mỹ) về các bộ tộc ăn thịt người bản địa gây ra sự hoang mang cho thực dân Anh tới Jamestown. Họ luôn nơm nớp với nỗi sợ hãi về các bộ tộc ăn thịt người bản địa.

George Percy - một trong những người sống sót sau thảm kịch ăn thịt đồng loại.

Do sự bất đồng về văn hóa cũng như nghi kị giữa thổ dân bản địa với người Anh, những trận chiến giữa hai bên đã diễn ra. Hai tuần sau khi tới Jamestown, bộ tộc Paspahegh sống gần đó đã gây ra cái chết của 1 người Anh và khiến 11 người khác bị thương. Những thực dân Anh ở đây lâm vào tình trạng khốn cùng, khổ cực.

Thực dân Anh vấp phải sự chống trả của những người dân bản địa.

Bị cô lập trong khu vực rộng lớn nhưng hoang vắng, thiếu thốn lương thực, thực phẩm và thậm chí là cả nước uống, rồi điều gì đến cũng đã phải đến. Chính người Anh, chứ không phải thổ dân bản địa đã ăn thịt đồng loại mình. Thảm kịch đã xảy ra vào mùa Đông năm 1609 khi chỉ sau 3 tháng, từ tổng số 300 người Anh sống ở thị trấn James Fort, Jamestown; đến mùa Xuân năm 1610, quân số chỉ vỏn vẹn còn lại 60 người. Câu hỏi được đặt ra là 3/4 tổng số người, họ đã đi đâu?


Câu trả lời là họ đã bị ăn thịt. Chính George Percy - người sống sót sau thời điểm kinh hoàng ấy đã viết lại sự việc trong tác phẩm của mình. Tuy nhiên, ông gọi đó là “xã hội cần cấp cứu” và cho rằng, hành động thú tính trong thời điểm đó là không tránh khỏi và không có tội.

Chính người Anh lại ăn thịt đồng loại giống như các bộ tộc châu Mỹ bản địa.

Mùa hè năm 1610, khi các tàu của người Anh quay lại, mang theo lương thực, nước uống tới, sự việc mới đi tới hồi kết, sự việc ăn thịt người không còn xảy ra nữa. Sau này, câu chuyện trên cũng không còn được nhắc tới nhiều trong các tư liệu khác.

… tới bằng cớ khoa học …

Liệu chúng ta có thể chấp nhận lập luận và tin vào câu chuyện của ông George Percy? Sau nhiều nỗ lực tìm kiếm, giới khảo cổ cuối cùng đã vén được bức màn đằng sau sự kiện ở James Fort năm đó. Họ tìm thấy xương của một cô gái 14 tuổi, một nạn nhân của “mùa Đông 1609”.

Những vết rìu mài vào hàm dưới hộp sọ cho thấy người Anh đã dùng nó để ăn thịt đồng loại.

Nhà pháp y Doug Owsley sau khi nghiên cứu đã tuyên bố rằng: “Những mảnh xương cho thấy sự thiếu kinh nghiệm trong việc giết mổ động vật. Các vết cắt cho ta biết mục đích rõ ràng của việc cắt, chặt xương là để lấy thịt phục vụ nhu cầu ăn uống”.

Những bằng chứng chứng tỏ thảm kịch ở Jamestown là có thật.

Hộp sọ còn sót lại của cô gái trẻ 14 tuổi.

Vậy là thảm kịch "mùa Đông 1609" là có thật. Theo thống kê của các nhà khoa học, thậm chí phải tới 80% những người Anh đầu tiên ở đây đã chết vì nạn ăn thịt người bởi người hàng xóm, đồng hương.

Hình ảnh khuôn mặt cô gái nạn nhân được khôi phục bằng công nghệ.

Sự kiện mới hé lộ này thêm một lần nữa khắc sâu vào câu hỏi: trình độ văn minh của con người đang ở đâu? Có khi nào chúng ta thực sự thoát được phần con hung hãn, thú tính trong bản thân mình?

Thứ Tư, 5 tháng 3, 2014

Hé lộ vụ án gây tranh cãi nhiều nhất trong giới hình sự

Cuộc đời của tên sát nhân máu lạnh đã quan hệ với xác chết này vô cùng ly kỳ và là một trong những đề tài được tranh cãi nhất trong giới khoa học hình sự…

Tuổi thơ kinh hoàng

Henry Lee Lucas sinh ngày 23/08/1936 tại Virginia, Mỹ. Lucas sống cùng gia đình mình dưới mái nhà tạm bợ có hai phòng được làm bằng gỗ ghép.

Bố của Lucas - ông Anderson bị tàn phế và không có khả năng lao động sau một tai nạn xe lửa, chính vì vậy, ông ta luôn trong tình trạng say khướt, còn người mẹ Viola luôn điều hành gia đình bằng một cây gậy sắt.


Ảnh thời thơ ấu của Lucas.

Lucas có tất cả 8 anh chị em, hầu hết trong số đấy đã được gia đình giao cho các tổ chức từ thiện nuôi dưỡng. Tuy nhiên, vì một vài lý do, Lucas cùng người anh vẫn được giữ lại nuôi và thường xuyên phải chịu những trận đòn roi từ người mẹ.

Éo le hơn, Lucas và ông bố tội nghiệp luôn phải chứng kiến cảnh bà Viola... bán dâm với người lạ. Ghê tởm với những việc làm của vợ, ông Anderson uất ức và tử vong do bệnh viêm phổi.

Thỉnh thoảng bà mẹ còn ép buộc Lucas mặc váy đi học. Năm 17 tuổi, một người anh vô tình chọc con dao vào mắt trái của Lucas. Tuy nhiên khi tai nạn xảy ra, Lucas không được đưa đi bệnh viện ngay mà phải ở nhà vài ngày. Do đó, khi được đưa vào bệnh viện, con mắt đã bị hoại tử, bác sỹ yêu cầu bỏ nó và thay bằng đôi mắt giả.

Hành trình tội ác...

Lucas dần lớn lên trong cay đắng và tủi nhục, không được học hành nhiều lại thiếu thốn tình thương của cha, mẹ hay anh chị em trong nhà. Tất cả những điều này chính là tác nhân hình thành “con quỷ” trong Lucas.




Lucas tham gia vào các hoạt động tội ác và bị bắt khi thực hiện một loạt các vụ trộm cướp táo bạo. Sau đó, hắn bị kết án 6 năm tại nhà tù bang Virginia.

Mặc dù trong thời gian ở tù, gã từng trốn trại hai lần nhưng vẫn được tòa án trả tự do sớm một năm. Lucas quay trở về sinh sống với chị gái nhưng mẹ Lucas - bà Viola bắt ép hắn phải về sống với bà.

Bức ảnh bà Viola - mẹ của Lucas.

Tuy nhiên, gã từ chối thẳng thừng, bà mẹ độc đoán lập tức đến tìm con trai đi để thuyết phục. Cuộc tranh cãi giữa hai mẹ con diễn ra nảy lửa, Viola do quá tức giận cầm cây chổi đánh Lucas tới tấp.

Giống như "giọt nước làm tràn ly", Lucas lập tức vớ con dao và xông vào tấn công bà Viola. Người đàn bà 74 tuổi tử vong ngay lập tức với một vết đâm chí mạng ở cổ.

Tại phiên tòa, gã thành khẩn cúi đầu thừa nhận mọi tội lỗi và ban bồi thẩm cảm thông. Lucas nhận án ngộ sát và được gửi đến nhà tù Jackson ở Nam Michigan.

Sau hai lần tự tử không thành, Lucas được gửi đến trung tâm tâm thần và được thả tự do sau 10 năm chịu án. Không lâu sau đó, gã lại tiếp tục đứng trước vành móng ngựa khi đang cố gắng bắt cóc hai bé gái tuổi vị thành niên.

Thi thể nạn nhân đầu tiên Lucas sát hại được phát hiện.

Vào tù ra tội mãi, cuối cùng, hắn được thả tự do vào năm 39 tuổi. Từ đây, Lucas di chuyển liên tục, không ở cố định nơi nào. Lucas kết thân với một gã quậy phá tên Ottis Toole khi ghé tới thị trấn Jacksonville năm 1976. Người bạn mới này đề nghị Lucas chuyển tới sống tại một căn hộ nhỏ. Nơi đây, Lucas gặp Becky Powell - cháu gái của Toole - một cô bé bị tâm thần dạng nhẹ, thiếu thốn sự quan tâm của gia đình và bạn bè.

Lucas tỏ ra quan tâm cô bé nên trong mắt của Powell, Lucas là một người rất quan trọng và cô gái cũng là người đầu tiên mang đến cho Lucas một cảm giác đặc biệt.


Năm 1981, mẹ của Toole qua đời và chính quyền thu hồi lại căn nhà. Cặp đôi này rời Jacksonville và tới dừng chân ở Ringgold, Texas. Họ sống với nhau như vợ chồng ở khu trang trại gà bị bỏ hoang. Đây được coi là khoảng thời gian đẹp nhất trong cuộc đời Lucas. Hắn tự xây dựng ngôi nhà của mình, tự mua được một chiếc xe ô tô và sắm những đồ đạc cần thiết cho căn nhà như tivi, giường ngủ…

Mọi chuyện tưởng chừng diễn ra tốt đẹp với Lucas cho đến một ngày, Lucas khóc lóc và kể với hàng xóm xung quanh rằng Powell nhớ nhà nên đã nhảy lên một chiếc xe tải và bỏ hắn ở lại.


Tháng 06/1983, Lucas bị bắt giữ với tội danh tàng trữ vũ khí trái phép và sau 5 ngày tra khảo, Lucas nhận tội về cái chết của Rich - một người phụ nữ trung niên mất tích vào năm ngoái.

Lucas khai nhận đã rủ Rich đi nhà thờ nhưng thay vào đó, gã lái xe đi lòng vòng, khi đến địa điểm thích hợp thì ra tay giết người đàn bà này rồi bắt đầu quan hệ với xác chết.

Khi đã thỏa mãn thú vui bệnh hoạn, gã giấu xác nạn nhân dưới một ống cống rồi bỏ đi. Sau đó mấy ngày, Lucas quay trở lại bắt đầu công đoạn thủ tiêu nạn nhân, xóa dấu vết bằng cách cho xác chết vào lò đốt cháy thành tro bụi trong vòng hai ngày.


Dựa trên lời khai, cảnh sát tổ chức lục soát trang trại, tìm thấy được những mảnh xương còn sót và tro cốt ở trong lò đốt. Ngoài ra, tại vườn của tên “râu xanh” bệnh hoạn này còn thấy một bộ quần áo và chiếc kính của nạn nhân. Trước vật chứng xác đáng, Lucas chỉ còn biết cúi đầu nhận tội và bị kết án giết người.

Trong quá trình điều tra cảnh sát phát hiện ra một điều vô cùng đáng sợ, thực tế Powell không về nhà mà đã bị Lucas giết chết, say đó hắn cắt Powell thành nhiều mảnh đem chôn. Lucas khai nhận: “Tôi rất yêu Powell, không bao giờ tôi muốn giết cô ấy. Chúng tôi đang sống rất hạnh phúc thì cô ấy muốn về nhà, rời xa tôi, bỏ lại những tháng ngày vui vẻ. Tôi không chấp nhận điều này xảy ra. Powell là của tôi, mãi mãi sẽ là của tôi mà thôi”.

Bộ mặt thật của kẻ bịp bợm

Phiên tòa xét xử vụ giết Kate Rich được tổ chức vào ngay sau đó - tháng 6/1983. Tại đây, Lucas cúi đầu nhận tội và bị tuyên 75 năm tù. Điều đặc biệt hơn, khi kết thúc phiên tòa, hắn đã tiết lộ một tin khiến mọi người có mặt tại phiên tòa lạnh gáy: “Tôi đã giết khoảng 100 người phụ nữ”.

Tên sát nhân Lucas có mặt hầu hết ở các trang báo.

Những thông tin liên quan đến Lucas trở nên nóng hổi hơn bao giờ hết và có mặt tại trang nhất ở hầu hết các báo. Các cảnh sát từ khắp nơi trên đất nước đồng loạt xin diện kiến tên sát nhân máu lạnh này với hy vọng có chút manh mối về những vụ giết người chưa có lời giải tại khu vực của mình.

Tên sát nhân điên cuồng này sau đó tự thừa nhận mình là tác giả của 600 vụ án. Cảnh sát đã liên hệ được 81 vụ giết người, cùng lời khẳng định, Lucas là hung thủ của 8 vụ án nghiêm trọng trên khắp cả nước.



Tuy nhiên, khi điều tra một vụ án mang tên “chiếc tất cam” mà Lucas nhận mình là hung thủ, cảnh sát đã phát hiện ra một chiêu trò của tên máu lạnh. Trong cuộc kiểm tra, máy nói dối đã kết luận rằng, Lucas không phải là hung thủ trong vụ án đó.

Các điều tra viên cho rằng, đây chỉ là cái cớ để hắn ta kéo dài bản án và có một cuộc sống dễ chịu (do bị giám sát đặc biệt vì gây trọng án) mà thôi. Nghe có vẻ phi lý, nhưng việc liên tiếp thú nhận các vụ án mạng khác nhau giúp gã được tới các khu điều tra đặc biệt với chất lượng sống cao, có chế độ ưu đãi đặc biệt như một "ông hoàng".


Nhưng cuối cùng, thủ thuật ấy cũng bị vạch trần. Đến ngày 26/01/1998, thống đốc bang Texas lúc bấy giờ đã quyết định Henry Lee Lucas sẽ phải nhận bản án chung thân vì đã giết mẹ, vợ, Kate Rich cùng 8 người khác.

Thống đốc cũng yêu cầu cảnh sát không được phép cho hắn tham gia vào bất kỳ công việc điều tra nào. Kể từ đây, tên sát nhân sống cuộc đời cực khổ tại nhà lao Florida và mất năm 2001 vì bệnh xơ gan.

Những thủ đoạn làm giàu của anh em Ngô Đình Diệm

Một nhà báo Pháp từng viết: Bao nhiêu tiền bạc trên thị trường ở phía dưới vĩ tuyến 17 đều lọt vào tay họ Ngô…

Thực vậy, trong 9 năm Diệm làm Tổng thống, anh em họ Ngô đã dùng nhiều “mẹo mực” để vơ vét được một khối tài sản khổng lồ.

Ông linh mục tham lam

Trong gia đình, Ngô Đình Thục là anh của Diệm. Mặc dù đã trở thành một linh mục, được phong giám mục rồi tổng giám mục nhưng ông này vẫn còn chưa hết lòng tham lam. Bởi vậy, khi Diệm lên làm Tổng thống, Thục đã tranh thủ mọi cơ hội để làm giàu.

Đại gia đình của cựu Tổng thống chính quyền Sài Gòn cũ Ngô Đình Diệm. Ảnh: Giadinh.net.vn.

Thục cho lập một hội mang tên “Hội Việt Nam viện trợ Cao đẳng giáo dục” để làm bình phong cho các hoạt động kinh tế. Thục bỏ vào đây 1 triệu rưỡi đồng để làm vốn và để đủ số người cổ phần theo luật định, Thục phải mượn tên người khác cho đủ số. Lấy tư cách anh Tổng thống, Thục bảo Bộ Canh nông cấp giấy phép cho Thục khai thác cây rừng tại Định Quán trong 5 năm và đã thu lời được trên 100 triệu bạc. Cùng với đó, số tiền thu về từ các hoạt động áp phe giấy phép xuất nhập cảng bán lại cho Hoa thương ở Chợ Lớn, Thục đã thu được những khoản tiền lớn đủ để xây cất mấy khách sạn cùng 1 biệt thự lớn ở Sài Gòn…

Kiểu làm ăn của Thục là lợi dụng uy quyền của em để “cướp không” tài sản của đất nước. Ông ta giật dây cho Viện đại học Đà Lạt đứng lên thuê chính phủ họ Ngô để khai thác một cơ sở trà tại Lâm Đồng với giá tượng trưng 1 đồng bạc. Có lần, ông ta còn cho người tới ngân hàng Thương Tín vay tiền, lấy cớ là để hỗ trợ cho giáo dục nhưng thực chất là để làm vốn khai thác gỗ lậu để xuất khẩu. Ngân hàng này nhất quyết không cho vay. Chẳng bao lâu sau thì giám đốc ngân hàng bị Diệm dùng áp lực chính trị buộc chuyển công tác khác. Việc này được nhắc trong cuốn Cái chết của anh em nhà Ngô của Nông Huyền Sơn.

Nhờ thế, chẳng mấy chốc, Thục có trong tay một khối lượng tài sản khổng lồ mà không một đại điền chủ hay nhà tư bản nào ở miền Nam lúc đó có thể sánh được. Theo cuốn Đệ nhất phu nhân Trần Lệ Xuân, số tài sản của Thục gồm 200 mẫu tây đồn điền tại Đăk Lăk được giao cho công ty CHPI làm quản lý kỹ thuật, chia lời 99% cho Thục, 227.717 thước vuông địa ốc đã xây dựng cùng 258 mẫu tây trồng cây kỹ nghệ. Ngoài các tài sản trên, đến thời kỳ cuối của triều đại họ Ngô, số tiền Thục gửi ở các ngân hàng đã lên tới 5.108.705.173 đồng, tương đương với 70 tỷ đồng quan cũ.

Đã rất giàu có nhưng như người đời vẫn nói, lòng tham không đáy. Bởi thế, trong dịp lễ Ngân khánh (kỷ niệm 25 năm ngày Ngô Đình Thục được phong làm Giám mục), Thục bắt phải tổ chức rầm rộ với ban tổ chức gồm toàn những kẻ tai to mặt lớn trong Quốc hội, Chính phủ. Quan trọng nhất là Thục lại tận dụng luôn nó làm một dịp kiếm tiền. Cuốn Tại sao Mỹ thua ở Việt Nam cho biết: Trong cái dịp lễ này, người ta bắt các nhân vật tham gia phải mua vé với giá 5.000 đồng (giá trị bằng nửa tấn gạo theo thời giá lúc đó).

Bí quyết của cậu Cẩn

Không giống Thục, Ngô Đình Cẩn lại có một lối “làm ăn” riêng biệt. Hai món hàng sở trường của Cẩn là vàng và thuốc phiện. Cẩn thường cho thủ hạ khoác hình thức nhân viên ngoại giao qua lại Lào để mua vàng thoi rồi chuyển về nước bằng “va ly ngoại giao”, mỗi chuyến hàng chục kg. Một trong những tay chân thân tín của Cẩn là Nguyễn Cao Thăng đã được cho xuất ngoại nhiều lần để thực hiện các phi vụ làm ăn.

Anh em Ngô Đình Cẩn trong ngày mừng thọ bà Anna Phạm Thị Thân.

Về thuốc phiện, quốc lộ 9 nối liền từ Lào tới Đông Hà là con đường hoạt động đặc biệt của Cẩn với các đoàn xe có vũ trang hộ tống. Các cơ quan an ninh và thuế quan đều được mật lệnh phải giúp đỡ cho các đoàn công tác này và không được xét hỏi trong xe có gì. Lào đã trở thành nguồn cung thuốc phiện cho Việt Nam thông qua hai anh em Nhu, Cẩn. Có khác chăng, Nhu với quyền lực cao hơn nên áp tải bằng máy bay còn Cẩn thì bằng ô tô nhưng cả hai đều được quân đội, công an của chế độ bảo vệ rất an toàn.

Ngoài những món thu lợi lớn là vàng và thuốc phiện, Cẩn còn độc quyền buôn bán nhiều món hàng khác như gạo, quế. Vì miền Trung là xứ đất đai cằn cỗi, không sản xuất đủ lương thực, thường phải mua từ miền Nam để bổ sung. Cẩn đã thao túng thị trường lúa gạo miền Trung bằng tổ chức “Trung Nam Mễ cốc công ty” chuyên chở gạo từ Sài Gòn về bán giá chợ đen cho dân, đồng thời chèn ép các thương gia không cho họ kinh doanh mặt hàng này. Nếu ai muốn làm thì phải nộp tiền cho Cẩn. Người ta nói rằng chỉ riêng số tiền thu của các thương gia trong vụ này cũng hàng chục triệu đồng.

Về quế, ở Quảng Nam, Quảng Ngãi – là hai tỉnh sản xuất quế lớn nhất, Cẩn bắt dân chúng ở đây phải bán cho thuộc hạ của hắn với giá chỉ bằng 1/10 giá thị trường mà dân phải buộc lòng bán. Vì Cẩn giữ độc quyền xuất cảng ra nước ngoài, nếu không bán cho thuộc hạ của hắn thì cũng chẳng ai dám mua quế cho dân.

Bởi những hoạt động kinh tế kiểu ăn chặn, ăn cướp đó, Cẩn mau chóng trở thành một tay đại phú với tài sản hàng tỉ bạc. Những thủ hạ của Cẩn cũng nhanh chóng phất lên, kiếm hàng chục triệu bạc một năm, có biệt thự, xe hơi, tiền gửi ngân hàng…

Ai là kẻ giàu nhất?

Tuy Thục và Cẩn đã giàu có nhưng khối tài sản của họ chưa thấm tháp gì so với tài sản của vợ chồng Ngô Đình Nhu. Cặp vợ chồng ông cố vấn, ngoài việc buôn bán ma túy và kinh doanh sòng bạc để lấy tiền phục vụ cho mạng lưới gián điệp thì còn nhiều phương pháp “làm tiền” rất phong phú mà toàn những chiêu siêu lợi nhuận.

Chân dung Trần Lệ Xuân. 

Theo cuốn Đệ nhất phu nhân Trần Lệ Xuân, riêng trong năm 1955, vợ chồng Nhu đã cắt xén ngay một lúc 22 triệu dollar trong số tiền viện trợ. Vụ này sau bị một nhà báo tố cáo làm lùm xùm một thời gian trên công luận khiến Washington phải triệu cả đại sứ Mỹ ở Sài Gòn về xét hỏi.

Nguồn viện trợ Mỹ là một cái mỏ để vợ chồng Nhu đào với mỗi lần thu được hàng triệu dollar. Lệ Xuân cũng như hai người anh, em chồng, rất tham lam; không bỏ qua một cơ hội kiếm tiền nào. Lợi dụng quyền thế của gia đình, Lệ Xuân và tay chân tổ chức những vụ buôn lậu lớn lao vàng ngọc, giấy bạc… trên đường bay Sài Gòn – Hong Kong.

Một hoạt động khác nữa là xuất cảng cao su do Lệ Xuân phụ trách và đám thủ hạ ở Nha thương cảng thi hành mỗi lần đem lại cho Lệ Xuân hàng trăm triệu Frances. Số tiền này được che mắt bằng cách chuyển cho 300 sinh viên ma ở Pháp qua sự sắp đặt gian lận của tòa đại sứ Việt Nam cộng hòa ở Pháp trong nhiều năm liền. Tất cả những tiền bạc mà vợ chồng Nhu thu được từ các hoạt động bất chính ấy đều được gửi vào các ngân hàng ở Thụy Sĩ, Pháp, Italia, Anh…

Sau khi anh em họ Ngô bị diệt, dân chúng vẫn kháo nhau về sự giàu có của vợ chồng Nhu nhưng con số cụ thể bao nhiêu thì khó nói chính xác. Tuy vậy, trong bài báo Pháp nhan đề “Phong kiến và mại bản ở miền Nam Việt Nam” được trích dẫn trong cuốn Đệ nhất phu nhân Trần Lệ Xuân, ký giả nói: “ Đứng đầu là đệ nhất phu nhân mà số tiền bạc đã gửi ở ngoại quốc đã lên đến hàng tỷ, được công nhận vào hàng ngũ tỉ phú quốc tế sắp hạng thứ tư, không kém gì các ông vua dầu hỏa, xe hơi… ở Mỹ”.

Chủ Nhật, 2 tháng 3, 2014

Lời tiên tri "trúng phóc" về thế giới của các nhà văn

Nhà văn Mỹ Morgan Robertson đã viết cuốn sách "Sự phù phiếm" năm 1898 và tiên tri về việc tàu Titan bị chìm ở Đại Tây Dương giống với tàu Titanic.

Tiên tri của Jules Verne về tàu Apollo


Năm 1865, nhà văn Pháp chuyên viết thể loại khoa học viễn tưởng Jules Verne đã đưa ra lời tiên đoán việc tàu Apollo hạ cánh xuống Mặt trăng trước khi sự kiện này trở thành hiện thực hơn 100 năm sau.
Khi đó, ông viết một truyện ngắn có tên "From the Earth to the Moon" (Từ Trái đất tới Mặt trăng) kể về chuyến hành trình đầu tiên của nhân loại đặt chân lên Mặt trăng. Trong tác phẩm của mình, nhà văn Verne đã viết nhiều chi tiết mà sau này chúng trở thành sự thật.

Nhà văn Pháp Jules Verne đưa ra dự đoán chính xác về tàu Apollo được phóng lên Mặt trăng.

Một trong những chi tiết trong tác phẩm "Từ Trái đất tới Mặt trăng” thành hiện thực đó là tên lửa sẽ phóng từ bang Florida (Mỹ), tàu không gian sẽ mang tên Apollo cũng như số hiệu của các phi hành gia, trạng thái không trọng lượng… Một bằng chứng khác đó là, vào năm 1865, nhà văn Verne sẽ tuyệt đối không thể tìm được bất cứ tài liệu nào nói về vụ phóng tàu Apollo lên Mặt trăng.

Morgan Robertson tiên tri về thảm kịch tàu Titanic trước đó 14 năm

Vào năm 1898, tác giả người Mỹ Morgan Robertson đã viết một cuốn sách có tên “Futility, or the Wreck of the Titan” (tạm dịch: Sự phù phiếm, hay vụ đắm tàu Titan) nói về vụ đắm tàu tưởng chừng không bao giờ có khả năng xảy ra. Khi mọi người nhìn thấy trang bìa của tác phẩm, bạn sẽ nhìn thấy một số điểm trùng hợp giữa con tàu trong cuốn tiểu thuyết của nhà văn Robertson với con tàu Titanic.

Trang bìa cuốn tiểu thuyết "Sự phù phiếm" của nhà văn Robertson có nhiều điểm tương đồng đến lạ kỳ với thảm kịch mà Titanic gặp phải.

Trong cuốn tiểu thuyết của mình, Robertson kể về việc một con tàu lớn nhất từ trước đến nay, tương đương với khách sạn hạng nhất và được nhấn mạnh là con tàu không thể chìm. Tuy nhiên, ngay trong chuyến hải trình đầu tiên, nó đã đâm phải một tảng băng trôi ở Bắc Đại Tây Dương. Kết cục là con tàu Titan chìm xuống đáy đại dương. 14 năm sau, tàu Titanic đã lặp lại bi kịch y như con tàu Titan xuất hiện trong cuốn tiểu thuyết của Robertson.

Ngoài ra, cả hai tàu này đều do Anh sản xuất, dài hơn 240m. Cả hai con tàu đều gặp nạn vào tháng 4 và khoảng nửa đêm. Điểm chung tiếp theo là cả tàu Titan và Titanic mang khá ít xuồng cứu sinh để có thể cứu tất cả các hành khách trên tàu khi gặp nạn.

Tuy nhiên, con tàu Titan trong cuốn tiểu thuyết của nhà văn Robertson có một số điểm khác biệt với tàu Titanic. Đầu tiên, con tàu Titanic đã không đâm vào tảng băng trôi Newfoundland 400 dặm khi đang di chuyển với vận tốc 25 hải lý như ông Robertson “tiên đoán”. Trên thực tế, Titanic đâm vào một tảng băng trôi cách Newfoundland 400 dặm khi di chuyển ở vận tốc 22,5 hải lý.

Nhà văn Anh dự đoán về bom nguyên tử

Năm 1914, nhà văn, tiểu thuyết gia khoa học viễn tưởng H.G. Wells nổi tiếng lịch sử thế giới đã dự đoán trước được sự ra đời của bom nguyên tử. Nhà văn Wells đã xuất bản cuốn tiểu thuyết mang tên "The World Set Free" (Thế giới tự do).

H.G. Wells đã dự đoán về bom nguyên tử từ năm 1914

Ngay ở lời tựa của cuốn sách, ông Wells đã viết lời tựa với nội dung bất cứ người nào có khả năng suy luận đều nhận thức được rằng, châu Âu sắp chìm trong một cuộc chiến tranh toàn cầu. Và nhân loại sẽ trải qua nỗi sợ khủng khiếp của chiến tranh khi phát minh ra bom nguyên tử.

Trong tác phẩm của mình, tiểu thuyết gia Wells đã miêu tả một thành phố bị hủy diệt bằng một quả bom nguyên tử. Trên thực tế, mãi tới năm 1942, dự án chế tạo bom nguyên tử đầu tiên mới xuất hiện ở Mỹ. Tuy vậy, ngay từ năm 1914, chỉ dựa vào kiến thức ít ỏi về những nguyên tố phóng xạ, ông Wells đã tưởng tượng ra một loại bom có sức hủy diệt ghê sợ, khiến loài người kinh hãi. Dự đoán của ông đã đi trước thời đại một thời gian dài.

Thứ Sáu, 28 tháng 2, 2014

10 cuộc xét xử phù thủy chấn động TG ( phần 2)

Mặc dù là Hoàng hậu Anh nhưng Anne Boleyn bị cáo buộc sử dụng thuật phù thủy, tội phản quốc và bị chặt đầu ngay trong tòa lâu đài Tháp London.

6. Maggie Wall

Đài tưởng niệm của Maggie Wall. 

Trong khoảng thời gian từ giữa thế kỷ XVI đến hết thế kỷ XVII, hơn 4.000 phụ nữ bị xử tử do phạm tội hành nghề phù thủy. Trong số những phù thủy bị kết án có Maggie Wall. Tuy nhiên, người ta vẫn làm đài tưởng niệm cao 6m với hình cây thánh giá ở trên đỉnh mộ của Maggie. Vào thời đó, người ta không hề có phong tục hay quy định nào cấm đặt thánh giá trên lăng mộ một phù thủy.

Dù không có bằng chứng rõ ràng về việc ai là người đặt cây thánh giá lên lăng mộ của Maggie nhưng dường như việc này do những người phụ nữ trong Giáo đoàn thực hiện. Họ làm như vậy với mục đích thể hiện sự phản đối việc kiểm soát chặt chẽ quá mức và bản án tử hình vô căn cứ cho tội danh dùng thuật phù thủy đối với Maggie. Khi đó, cô bị kết án tử và bị thiêu sống năm 1679.

7. Angela de la Berthe

Thuật phù thủy. 

Angela de la Berthe là một phụ nữ giàu có, sống ở một thị trấn nhỏ của Pháp. Đây là một trong những người đầu tiên bị xét xử về tội phù thủy vô cùng nổi tiếng ở châu Âu. Người ta buộc tội Angela có quan hệ với quỷ dữ và sinh ra một người con trai chuyên ăn thịt người.

Người dân địa phương vô cùng kinh hãi khi biết được những lời buộc tội về phù thủy Angela. Năm 1275, bà bị đưa ra xét xử và kết án sử dụng thuật phù thủy. Cuối cùng, Angela bị thiêu sống trước sự chứng kiến của mọi người.

8. Anne Boleyn

Hoàng hậu Anh Anne Boleyn.

Hoàng hậu Anh Anne Boleyn là vợ thứ 2 của vua Henry VIII. Bà là mẹ của nữ hoàng Elizabeth I. Sinh ra vào năm 1501 tại Blickling Hall, lâu đài Hever, Anh, hoàng hậu Boleyn là con của Phu nhân Elizabeth Howard và bá tước đầu tiên của Wiltshire có tên Thomas Boleyn.

Hoàng hậu Boleyn bị cáo buộc phạm phải hơn 19 tội danh, trong số đó có tội dùng thuật phù thủy. Tuy nhiên, hầu hết những lời buộc tội đó là vô căn cứ. Tuy nhiên, bá tước đời 6 của Northumberland là Henry Percy là thành viên bồi thẩm đoàn đã khép bà vào tội ngoại tình và tội phản quốc. Vì vậy, bà bị chặt đầu vào buổi sáng ngày 19/5/1536 tại tòa lâu đài Tháp London.

Trước khi bị hành hình, hoàng hậu Boleyn đã nói những lời cuối trước đám đông: "Hỡi những con chiên ngoan đạo, ta đến đây để chết theo pháp luật. Do đó, ta không có lời nào phản đối". Kế đến, đao phủ Rombaud đã kết liễu sinh mạng hoàng hậu Boleyn.

9. Marie Laveau

Marie Laveau.

Marie Laveau còn được gọi là "Nữ hoàng bùa phép Voodoo", sống ở New Orleans, Louisiana, Mỹ. Bà và con gái mình là Marie Laveau II đã đi theo tôn giáo Voodoo. Đó là một tôn giáo kết hợp giữa ma thuật châu Phi và Thiên Chúa giáo La Mã. Vào thời đó, tôn giáo này vô cùng phổ biến ở Haiti.

Ngày 23/6/1874, hơn 12.000 người da đen và da trắng đã đến hồ Pontchartrain để theo dõi bà thực hiện nghi lễ vào đêm Thánh John. Bà có một con rắn có tên là "Zombie". Người dân thời đó rất sợ sức mạnh kinh hoàng của con vật này. Bà là người đầu tiên khởi xướng bùa phép Voodoo.
Marie đã chữa bệnh thành công cho một bệnh nhân bị chứng sốt vàng. Khi đó, bà đặt người bệnh vào một vòng tròn, xung quanh được bố trí những bộ xương của nhiều loài động vật như gà, chó, mèo… Kế đến, người bệnh được uống cốc nước pha với bột trắng và nghe bà tụng kinh trong nhiều giờ đồng hồ.

Chỉ vài ngày sau đó, bệnh tình người này thiên chuyển theo chiều hướng tốt và phục hồi lại nhanh chóng. Kể từ đó, một số người tôn bà là thánh nhưng cũng có không ít người sợ hãi cho rằng bà đã sử dụng thuật phù thủy.
Năm 1881, báo chí New Orleans đồng loạt đưa tin phù thủy Marie qua đời tại nhà riêng. Tang lễ của bà diễn ra rầm rộ và trở thành một sự kiện nổi tiếng nhất thời bấy giờ.

10. Margaret Matson

Eddystone là nơi Marfaret Matson sống cùng chồng.

Margaret Matson và chồng Neals Matson đều là người gốc Thụy Điển. Sau khi Thụy Điển bị người Anh chiếm đóng, những người hàng xóm nói rằng bà là người đã bỏ bùa mê cho đàn gia súc của họ.

Đến ngày 27/12/1683, vợ chồng Margaret bị đem ra xét xử vì bị cáo buộc là một phù thủy biết sử dụng tà thuật. Tuy nhiên, Margaret không bị kết tội là phù thủy và được tạm tha sau 6 tháng giam cầm.

Thứ Tư, 26 tháng 2, 2014

“Bóc trần” những “bí kíp” hành nghề thầy bói

Rất ít người đi xem bói mà lại hy vọng thầy bói nói sai, ước vọng muốn tin của con người trở thành vũ khí lợi hại đối với thầy bói.

Quyền năng thầy bói một thời

Dự đoán trước số mệnh, tương lai luôn là điều tò mò, có sức cuốn hút con người. Có lẽ đó là lý do khiến bói toán song hành cuộc sống của con người từ thời xa xưa. Ở La Mã, ngay từ buổi khởi thủy, hội đoàn thầy bói được thành lập theo quyết định của vua Numa. Thế nhưng việc bói toán căn cứ vào đường bay của chim, của sao chổi và các hiện tượng khí quyển… thì đã có nguồn gốc cổ xưa hơn nữa.

Có thời kỳ, người ta gọi thầy bói là các “thầy augure” (augure chỉ khả năng tăng trưởng) và chỉ có những augure là những người duy nhất được phép diễn giải ý chí của thần linh. Các thầy augure nhân danh nhà nước, căn cứ vào xem xét đường bay của chim, quan sát những con gà được cúng và những tia chớp trên trời để trả lời “có” hoặc “không” cho một câu hỏi quan viên nhà nước đưa ra trong một lễ thức nghiêm ngặt. Lời phán quyết của thầy là bất khả kháng, quyền lực của ông ta đủ để bãi miễn một trận đánh, một cuộc bầu cử...

Ảnh minh họa: Internet.

Các augure thường mặc áo dài màu đỏ, đầu đội vòng miện, tay cầm trượng giải triệu sư, đứng và quan sát trời. Thầy augure thường dùng cái gậy nhỏ uốn cong để khoanh không gian trên trời, nơi chim sẽ bay lượn. Ông ta vẽ một hình vuông, hình đền thờ, mà con chim bói sẽ bay vào đấy. Không ai có thể tước đoạt những đặc quyền thiêng liêng của một augure, ông ta giữ chúng suốt đời.

Khoa học hiện đại phát triển đã lý giải nhiều hiện tượng thần bí với những nghiên cứu, minh chứng thuyết phục cũng là lúc những vị thầy bói không còn giữ quyền năng tối cao. Đến nay, ở cả phương Đông và phương Tây, bói toán không phải nghề được pháp luật thừa nhận nhưng vẫn còn tồn tại dưới nhiều hình thức. Thậm chí, vẫn có không ít người tin sâu sắc vào những dự đoán của thầy bói.

Thầy bói luôn nói đúng, vì sao?

Có một câu truyện ngụ ngôn hài hước nổi tiếng thế giới kể về một cô gái trẻ đến nhờ thầy bói xem vận mệnh của mình. Sau khi quan sát hồi lâu, ông thầy bói nói với cô gái: “Trên đùi cô mọc ba nốt ruồi đen, đấy là dấu hiệu cho biết cô sẽ có ba người tình. Đùi phải cô xăm chữ K, bụng cô còn có một vết sẹo”. Cô gái tỏ ra bất ngờ: “Thầy thánh thật! Sao thầy lại biết những việc ấy?”. Thầy bói điềm nhiên: “Lần sau cô đừng mặc váy ngắn thế!”.

Hay, ở Việt Nam cũng có nhiều câu ca dao nói về nghề bói toán như: “Số cô chẳng giàu thì nghèo/ Ngày ba mươi tết thị treo trong nhà/ Số cô có mẹ có cha/ Mẹ cô đàn bà, cha cô đàn ông/ Số cô có vợ có chồng/ Sinh con đầu lòng chẳng gái thì trai”…

Hầu hết các hình thức bói toán thường đưa ra những dự báo chung chung nên nhiều người tin là chính xác. Ảnh minh họa: Internet. 

Những câu chuyện, câu ca dao hài hước trên cũng là một vài minh chứng rằng, hầu hết các hình thức bói toán thường đưa ra những dự báo chung chung nên nhiều người tin là chính xác. Năm 1992, nhà vật lý Geoffrey Dean đúc kết ra 10 nguyên lý và 26 kỹ thuật dự báo của các nhà chiêm tinh, và sách “Bí ẩn của nhân loại” có ghi lại một số “kỹ thuật” thầy bói thường sử dụng nhiều nhất.

Trong đó có nhắc tới hiệu ứng Barnum, hay chính là việc người ta rất dễ dàng tiếp nhận những thông báo mơ hồ, chung chung. Hiệu ứng này được đặt tên theo các màn xiếc của P.T. Barnum. Năm 1949, một giáo sư tâm lý đưa ra một mô tả nhân cách tổng quát đến mức mọi sinh viên đều nhận đó là của chính mình, kiểu như: “bạn có xu hướng phê phán bản thân” hay “bạn thích một chút thay đổi”...

Ngôn ngữ cơ thể hay còn gọi là “đọc nguội” cũng là một kỹ thuật quan trọng và phổ biến với các thầy bói. Nắm bắt được ngôn ngữ của cơ thể, bạn có thể “nhìn thấu” được người khác và làm tốt việc chuyển giao thông điệp chính xác đến với họ. Thầy bói thường là những người rất thông thạo “kỹ thuật lấy tin” này.

Thứ ba là hiệu ứng Tiến sĩ Fox, nghĩa là con người bị lừa bằng khoa học và sự hài hước. Khi cảm thấy ở trong một môi trường giàu trí tuệ, và tin rằng đang được nghe một người am hiểu vấn đề nói, ta sẽ thỏa mãn mà không để ý rằng, thực ra quan điểm đó chưa hẳn đã đúng. Năm 1947, ba nhà giáo dùng một người đóng vai “tiến sĩ Fox” thuyết giảng về Lý thuyết trò chơi trong toán học, ứng dụng trong giảng dạy vật lý trước 55 nhà tâm thần học, tâm lý học, giảng viên, quan chức trường phổ thông và nhà hoạt động xã hội. Khi điền phiếu thăm dò, 42 người cho rằng, bài giảng được tổ chức tốt, nhiều minh họa và kích thích tư duy. Hầu hết cử tọa đều muốn nghe thêm về chủ đề này mà không ai hay biết đó chỉ là một trò lừa gạt.

Thứ tư là hiệu ứng vầng hào quang, hay chính là tầm quan trọng của ấn tượng ban đầu. Con người thường có xu hướng tin tưởng những thầy bói có tính cách nồng nhiệt hơn lạnh lùng, tự chủ, áo quần tươm tất… và giới bói toán hiểu rõ quy tắc này.

Trong trường hợp thầy bói đưa ra 2 dự báo đúng và 8 dự báo sai, người ta say sưa kể cho người khác nghe về 2 dự đoán“đúng một cách kỳ lạ”. Ảnh minh họa: Internet. 

Các thầy bói cũng hiểu rõ quy luật vàng của tâm lý học, đó là tưởng quan ảo, hay tin tưởng là sẽ thấy. Nghĩa là từ vô số sự kiện đã xảy ra trong cuộc đời, con người sẽ thấy một vài sự kiện phù hợp với dự báo của ông thầy bói mà họ thích. Thêm vào đó, vì những dự báo rất chung chung nên thầy bói rất ít khi sai lầm. Trong tình huống nói sai, họ có sẵn những cách biện minh kiểu, thừa nhận chưa hiểu hết thiên cơ.

Rất ít người đi xem bói mà lại hy vọng thầy bói nói sai. Ước vọng muốn tin của những người đi xem bói lại trở thành vũ khí lợi hại đối với thầy bói. Geoffrey Dean gọi đây là hiệu ứng giả dược (placebo). Nghĩa là nếu người ta nghĩ nó tốt thì nó sẽ tốt và khi thầy bói sai, người ta sẵn sàng cung cấp những ám hiệu để giúp họ hiệu chỉnh.

Trong trường hợp thầy bói đưa ra 2 dự báo đúng và 8 dự báo sai, người ta say sưa kể cho người khác nghe về 2 dự báo “đúng một cách kỳ lạ”, mà quên mất rằng, độ chính xác chỉ là 20%. Đây được gọi là ký ức chọn lọc, hay phản ánh hiện thực, người ta thường chỉ ghi nhớ những gì muốn nhớ. Các nhà nghiên cứu cho rằng, trên thực tế, nhiều khi đoán mò cũng đạt độ chính xác tới 50-70%.

Và, thêm một kỹ thuật quan trọng liên quan tới hiệu ứng mong ước, hay là những dự báo càng đẹp thì càng dễ được chấp nhận. Giới bói toán hiểu rõ điều này nên thường đưa ra các dự báo dễ chịu. Khi được thầy bói “phán như thánh” rằng ta tài giỏi, thông minh, sáng tạo, thăng tiến nhanh, hậu vận phú quý… thì thật hiếm người không muốn tin vào những điều tốt đẹp ấy.

Cuối cùng, không thể không nhắc tới một kỹ thuật thô sơ nhưng được hầu hết các thầy bói đều sử dụng mà Dean gọi là đọc nóng. Những người đi xem bói vài lần, hẳn từng phải xếp hàng dài đăng ký, nhưng đến lúc được gặp thì vị thầy bói tỏ ra quá mệt mỏi do đã xem cho quá nhiều người. Ông ta hẹn bạn vào tuần sau, và đúng hẹn, gặp bạn ông ta sẽ niềm nở, đọc ào ào hoàn cảnh, thậm chí góc nhà, vườn nhà bạn có đồ vật gì mà thậm chí bạn còn không để ý. Người đến xem giật mình vì tính chuẩn xác bất ngờ đó mà không biết rằng, đã có “thám tử” kín đáo bám theo bạn trong lần hẹn trước.

Thứ Ba, 25 tháng 2, 2014

10 cuộc xét xử phù thủy chấn động TG (1)

Với tội danh phù thủy, sử dụng tà thuật, Abigail Hobb, Agnes Sampson... bị xử tử bằng hình thức thiêu sống vô cùng rùng rợn.

1. Abigail Hobbs
Thẩm phán William Stoughton đã ký lệnh xử tử phù thủy Abigail. 

Ngày 8/4/1692, Abigail Hobbs ở Massachusetts (Mỹ) bị bắt giữ và kết tội là phù thủy. Không chỉ Abigail, cả cha mẹ cô là Deliverance Hobbs và William Hobbs cùng với Giles Corey, Mary Warren, Bridget Bishop cũng bị bắt do bị cáo buộc là phù thủy. Phiên tòa xét xử Abigail diễn ra từ tháng 4 đến tháng 6/1692.

Tại tòa, Abigail đã thú nhận dùng tà thuật làm hại Mercy Lewis cũng như thừa nhận đã giao tiếp với ma quỷ. Phù thủy này còn khai ra danh tính một số phù thủy khác. Khi đó, thẩm phán William Stoughton đã ký lệnh xử tử phù thủy Abigail.

2. Agnes Sampson

Agnes Sampson và các phù thủy. 

Phù thủy Agnes Sampson sống ở lãnh địa của nam tước Keith, ở phía Đông Lothian, Scotland, còn được gọi là “Bà mụ khôn ngoan xứ Keith”. Agnes được biết đến với vai trò là một thầy thuốc và là phù thủy.
Đến cuối thế kỷ XVI, chính quyền đã tìm được đầy đủ bằng chứng kết tội Agnes về tội sử dụng các thuật phù thủy. Sau đó, phù thủy này bị đem đi xét xử trong “Phiên tòa xét xử phù thủy phía Bắc Berwick”.
Trong thời gian xét xử phù thủy Agnes, vua James đã gặp nhiều trận bão biển trong chuyến du hành. Khi đó, họ phát hiện nguyên nhân dẫn đến thời tiết xấu trên biển là do Agnes sử dụng phép thuật phù thủy. Vì vậy, vua James đã ra lệnh xử tử phù thủy này.
Kể từ đó, một loạt các cuộc săn lùng phù thủy trên quy mô lớn diễn ra ở Anh. Chỉ trong năm 1590, 23 người bị kết tội là phù thủy. Bản án mà họ phải chịu đó là bị đóng cọc và thiêu sống.

3. Joan of Arc

Joan of Arc bị thiêu sống năm 1431 vì tội làm thuật phù thủy. 

Joan of Arc còn được gọi là “Thánh nữ Orleans”, là con gái của Jacques D'Arc và Isabelle Romee. Sinh năm 1412 tại Domremy, phía Đông nước Pháp, Joan of Arc bị bắt giữ và đưa ra tòa xét xử với tội danh sử dụng thuật phù thủy và đi theo dị giáo. Đến ngày 30/5/1431, Joan of Arc bị kết án tử hình và bị thiêu sống khi mới 19 tuổi.
Một nhân chứng chứng kiến cảnh hành hình của Joan of Arc cho hay: người ta đã thiêu sống Joan of Arc 2 lần đến khi thi thể của cô biến thành tro bụi. Sau đó, người ta thả tro cốt của cô xuống sông Seine". Sau khi xử tử Joan of Arc, giáo hội mới lật lại phiên tòa xét xử và phong cô là người tử vì đạo.

4. Temperance Lloyd

Bia kỷ niệm của Temperance Lloyd.

Temperance Lloyd bị bắt giữ với tội danh sử dụng thuật phù thủy. Một người bán hàng rong đã tố cáo Temperance với chính quyền. Sau khi bị bắt giữ, người ta nhốt Temperance trong nhà thờ cho đến khi xử tử. Khi đó, Temperance phải đối mặt với hàng loạt tội danh bao gồm: sử dụng phép thuật đáng ngờ đối với Grace Thomas, giao tiếp với ma quỷ trong thân xác một người da đen hoặc con chim đen.

Khi bị đưa lên giàn giáo và trong những giây phút cuối cùng trước khi bị treo cổ, chánh án đã hỏi Temperance có tin vào Chúa không. Cô đáp rằng: "Tôi tin vào Chúa và tôi cầu nguyện với Người tha thứ mọi tội ác tôi đã phạm phải".

5. Catherine Monvoisin

Phù thủy Catherine Monvoisin bị hành hình cùng con gái.

Catherine Monvoisin còn được biết đến với tên gọi La Voisin, là vợ của thợ kim hoàn người Pháp. Bà cùng con gái sống ở khu Place de Grieve, gần Paris bị kết tội là phù thủy và xử tử bằng hình thức thiêu sống.

Bà bắt đầu con đường tội lỗi khi sự nghiệp làm ăn của chồng thất bát. Catherine đã pha chế tình dược và độc dược khi hành nghề bói toán. Thậm chí, bà còn làm công việc hộ sinh, nạo phá thai. Bà cùng cô con gái bị bắt và hành hình vì tội danh dùng thuật phù thủy hại người.

Bí ẩn vụ giết người trong "bệnh viện 7 chiếc răng"

Bệnh viện Metropolitan, Massachusetts, Mỹ là nơi xảy ra một vụ giết người rùng rợn năm 1978. Cho đến nay, người ta vẫn chưa tìm thấy toàn bộ thi thể nạn nhân.

Bệnh viện Metropolitan nằm trải dài trên 3 thị trấn. Đây là nơi điều trị cho các bệnh nhân mắc bệnh tâm thần. Vào năm 1978, một vụ án mạnh kinh hoàng đã xảy ra tại đây. Khi đó, người ta đồn đoán một bệnh nhân điều trị tại bệnh viện này chính là hung thủ đứng đằng sau vụ án mạng. Dường như, thi thể nạn nhân bị hung thủ phi tang thành nhiều phần nhỏ và chôn cất ở nhiều nơi trong những cánh rừng ở Waltham, Lexington và Belmont thuộc tiểu bang Massachusetts.

Bệnh viện Metropolitan là nơi xảy ra một vụ án mạng kinh hoàng hồi năm 1978. 

Từ những chứng cứ thu thập được tại hiện trường, các chuyên gia nhận định nạn nhân là một phụ nữ có tên Anne Marie Davee đang điều trị tại bệnh viện Metropolitan.

Riêng bệnh nhân Melvin Wilson bị nghi ngờ chính là hung thủ sát hại Anne Marie Davee. Hắn bị cảnh sát cáo buộc giữ 7 chiếc răng của nạn nhân trên người cũng như giấu quần áo của Davee và hung khí gây án là một chiếc rìu. Với những sự kiện rùng rợn đó, bệnh viện Metropolitan được đặt biệt danh là "Bệnh viện 7 chiếc răng".

Khung cảnh hoang tàn toát lên vẻ ma mị ở bệnh viện Metropolitan.

Mặc dù phát hiện ra những điều đáng nghi, tuy nhiên, phải đến khi nhận được 19 báo cáo của các nhân viên làm việc tại Metropolitan cùng về trường hợp của Davee (đã mất tích suốt 2 năm), giới chức trách mới bắt tay điều tra.

Đến ngày 12/8/1980, Wilson đã dẫn các nhà điều tra đến các ngôi mộ - nơi hắn giấu những phần thi thể nạn nhân. Sau đó, hắn được chuyển đến bệnh viện Bridgewater - một bệnh viện pháp y và từ đó không có bất cứ thông tin nào được công bố.


Đến năm 1992, giới chức trách cho đóng cửa bệnh viện Metropolitan. Kể từ đó, nơi này bị bỏ hoang. Cho tới nay, bí ẩn về vụ giết người tại bệnh viện này vẫn chưa được làm sáng tỏ.

Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

Tiết lộ bất ngờ... thú vị về nụ hôn

Ngay từ thời cổ đại, nụ hôn đã là biểu tượng của sự hợp nhất, gắn kết tình cảm của con người nhưng thiên về ý nghĩa tâm linh.

Nụ hôn gắn kết linh hồn


Theo quan niệm của các giáo trưởng Do Thái, một số người công minh chính trực đã được miễn trừ sự hấp hối và cái chết, họ lìa bỏ cõi trần trong sự xuất thần mê ly do được nhận cái hôn của Chúa Trời. Liên quan đến cái hôn của thần linh, sách Zohar của người Israel có viết: “Cầu xin Người hôn con bằng những cái hôn từ miệng Người”. Bằng cách nói đó, cộng đồng người Israel cầu xin sự gắn kết không thể tách rời ấy giữa họ với thần linh.

Từ miệng là lối ra và nguồn của hơi thở, người ta trao nhau những cái hôn tình yêu. Khi linh hồn con người tỏa ra bằng cái hôn để gắn kết với một linh hồn khác, một con người khác, thì từ đấy họ sẽ không tách rời nhau được nữa, sự hợp nhất ấy là cái hôn. Hôn hàm nghĩa sự gắn kết linh hồn với linh hồn.

Thời Trung cổ, sư phụ của Giáo hội hoặc các tu sĩ cũng cắt nghĩa cái hôn với nghĩa gắn kết linh hồn. Với Guillaume de Saint Thierry (tu sĩ người Pháp), cái hôn là dấu hiệu của tính thống nhất. Chúa Thánh thần có thể được coi như là sự phát sinh từ cái hôn giữa Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con. Sự nhập thân là cái hôn giữa Chúa Trời và bản chất con người. Sự hòa hợp giữa linh hồn con người và Chúa Trời trong cuộc sống trần thế dự báo cái hôn hoàn hảo sẽ đến trong vĩnh hằng.

Cái hôn mà Chúa Thánh thần đặt lên con người thể hiện lòng nhân ái của Chúa. Ảnh: Internet.

Đức thánh Bernard de Clairvauix cũng trong chú giải trong Tuyệt Diệu Ca, cái hôn miệng, trao cho nhau giữa Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con, cái hôn nhau giữa người đồng đẳng với người đồng đẳng chỉ dành riêng cho họ mà thôi. Cái hôn mà Chúa Thánh thần đặt lên con người, nó tái hiện cái hôn của Bộ Tam - Nhất thánh thần, không phải và không thể là cái hôn miệng, mà là một cái hôn được tái tạo để trao đổi với một cái hôn khác: cái hôn của cái hôn. Đó là bản sao tình yêu của Chúa trong con người, lòng nhân ái của Chúa trở thành lòng nhân ái của con người.

Theo thánh Bernard, con người, theo một cách nhất định, đứng ở khoảng giữa của cái hôn và của sự ôm hôn giữa Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con, mà cái hôn ấy chính là Chúa Thánh thần. Con người như vậy, bằng cái hôn, đã hợp nhất với Chúa và chính do đó mà đã được thần thánh hóa.

Với tư cách là dấu chỉ của sự hòa hợp, sự quy thuận, sự tôn kính và của tình yêu, cái hôn được trao cho nhau như một lễ thức giữa những người được thụ giáo trong các buổi lễ của nữ thần Cérès: nó chứng thực sự hòa hợp tâm linh của họ.

Hôn nhau ở nhà thờ là thông dụng trong Giáo hội nguyên thủy. Giáo hoàng Innocent đệ nhất đã thay thế tục lệ đó bằng một tấm kim loại (Pax) mà người đến hành lễ hôn vào đó và truyền cho người khác hôn. Tấm kim loại ấy về sau được gọi là Patène và hiện còn được lưu dùng. Tập quán ấy còn được duy trì trong việc hôn những di vật của các thánh những thánh tích ấy được trưng bày vì lòng sùng bái của các tín đồ.

Trong thời Cổ đại, người ta ôm hôn chân và đầu gối nhà vua, quan tòa hay những người nổi tiếng thánh thiện. Người ta ôm hôn những bức tượng để cầu xin được sự bảo hộ.

Ở thời Trung cổ, trong luật lệ phong kiến, chư hầu đứng hôn tay Lãnh Chúa, từ đó hôn tay là ngụ ý tỏ lòng cung kính.

Trong các nghi lễ cổ liên quan đến lễ thụ phong các linh mục và lễ cung hiến các nữ đồng trinh, có nói bóng gió về cái hôn được ban tặng bởi đức Giám mục. Vì những lý do ý nhị, sự ôm hôn được bãi bỏ với nữ đồng trinh, người nữ tu chỉ cần đặt môi lên bàn tay của giáo sĩ.

Bày tỏ tình yêu bằng nụ hôn

Đất nước đầu tiên bày tỏ tình yêu bằng nụ hôn là Pháp. Ảnh: Internet.

Các nhà khoa học cho rằng, đất nước đầu tiên bày tỏ tình yêu bằng nụ hôn là Pháp. Trong cuốn 1001 hỏi đáp khoa học có đề cập tới nguồn gốc nụ hôn tình yêu: “Trong các điệu múa dân gian lưu hành ở Pháp xưa, hầu như điệu nào cũng lấy nụ hôn làm phần kết thúc”.

Cách bày tỏ tình yêu bằng nụ hôn đã từ nước Pháp nhanh chóng lan truyền khắp châu Âu. Người Nga thích học theo phong tục của người Pháp, do đó tục hôn nhau được họ tiếp thu và truyền bá trong giới thượng lưu. Đuợc Nga Hoàng hôn đã trở nhành niềm vinh dự cao nhất được nền quân chủ thừa nhận.

Về sau, nụ hôn đã trở nhành một phần quan trọng trong cách bày tỏ tình yêu. Cùng với sự phát triển của tập tục cưới xin, hôn nhau đã trở nhành một phần nghi thức trong lễ cưới.

Ngày nay chúng ta coi nụ hôn là cách bày tỏ tình cảm yêu thương và thân thiết. Tuy vậy, vẫn có nhiều nơi trên thế giới, người ta coi nụ hôn là một phần nghi lễ, dùng để bày tỏ lòng tôn kính và phục tùng.