Tổng số lượt xem trang

Thứ Năm, 8 tháng 12, 2016

Khám phá “cỗ máy bí mật” giúp bảo vệ Kim tự tháp Giza

Kim tự tháp Giza vẫn mang trên mình những bí ẩn đến nay chưa được giải đáp, trong đó phải nhắc đến hệ thống bẫy rập vô cùng tinh xảo.


Bức tượng của Pharaoh Khufu. (Ảnh: Internet) 


Pharaoh Khufu (hay còn gọi là Cheops), một trong những vị Pharaoh vĩ đại nhất của thời cổ Vương quốc Ai Cập, trị vì Đế chế Ai Cập từ năm 2551 TCN tới năm 2528 TCN. Ông là người đã cho khởi công xây dựng Đại Kim tự tháp Giza – nơi an nghỉ vĩnh hằng của mình. Với chiều cao 147 mét, thi công trong vòng 20 năm với 10 vạn nô lệ trên công trường xây dựng, đây có thể xem là công trình vĩ đại bậc nhất thời cổ đại. Đây là kì quan duy nhất trong 7 kì quan thế giới cổ đại còn tồn tại nguyên vẹn cho đến ngày hôm nay.


Kim tự tháp Giza không chỉ đơn thuần là lăng mộ kì vĩ của vị Pharaoh mà còn ẩn chứa bên trong muôn vàn những điều bí ẩn. Người ta nói rằng đặt hai cốc sữa giống hệt nhau, một cốc bên ngoài, một cốc bên trong kim tự tháp, khi cốc bên ngoài đã trở nên chua và nổi mốc thì cốc bên trong vẫn tươi ngon. Đặt một đồng xu bị gỉ sét vào lòng kim tự tháp, nó sẽ trở nên sáng bóng trở lại… và muôn vàn câu chuyện kì bí khác mà các nhà khoa học vẫn chưa lí giải được.


Một công trình đứng vững trước thời tiết khắc nghiệt của sa mạc Ai Cập suốt gần 5 thiên niên kỉ. (Ảnh: Internet)


Khám phá bên trong lăng mộ vĩ đại của Khufu

Hiện tại, đã phát hiện ra ba phòng lớn trong Kim tự tháp Giza – phòng nền nằm trên nền móng đá, hỗ trợ toàn bộ cấu trúc lớn của toàn bộ kim tự tháp, hai phòng trên được gọi là phòng Pharaoh và phòng Hoàng hậu. Vươn ra từ tường phía Bắc và phía Nam của phòng Hoàng hậu là hai đường hầm rộng, cao 20cm, được chặn bởi cửa đá. Không ai biết đường hầm này có công dụng gì, nhưng có những giả thuyết cho rằng chúng dẫn tới một phòng bí mật khác.

Mặt cắt cho ta dễ dàng hình dung cấu trúc bên trong của Kim tự tháp tính cho đến thời điểm hiện tại. (Ảnh: Internet) 


Nhà khảo cổ Mark Lehner (Mỹ), người đã khám phá bí ẩn tại lăng mộ lớn này 30 năm ròng, cho biết người Ai Cập cổ sẵn sàng bỏ rất nhiều công sức để ngăn chặn những kẻ đào mộ đến cướp bóc và phá phách.


Một trong những hệ thống an ninh phức tạp nhất là “chiếc máy cổ đại”, giữ những viên đá tảng cực lớn trong bức tường của kim tự tháp cho tới khi thi hài vua Khufu được đặt xuống yên nghỉ.


Về cơ bản, phía bên trong của kim tự tháp, những tảng đá lớn chứa tại trần lăng mộ Pharaoh Khufu, được dẫn đường bởi các đường rãnh khắc bên trong tường. Khi Pharaoh Khufu chính thức được đặt xuống, những viên đá lớn này sẽ rơi xuống, chặn hết những đường hầm dẫn vào khu lăng mộ.

Các phiến đá sẽ trượt theo đường dốc dài xuống dưới, chặn đứng đường vào. (Ảnh: Internet) 


Dù vậy, các nhà khảo cổ học nghĩ rằng việc hiểu được hệ thống an ninh của kim tự tháp sẽ dẫn họ đến với những phòng bí mật được giấu kín hàng nghìn năm. Thực tế, một vài nhà nghiên cứu nghĩ rằng lăng mộ thực sự của Pharaoh Khufu vẫn còn nằm sâu bên trong kim tự tháp, tất cả những phòng ngoài đều chỉ là chiêu trò đánh lừa của các kiến trúc sư cổ xưa.


Đến khi nào các nhà khoa học mới có thể giải đáp hết những bí ẩn bên trong công trình vĩ đại này? (Ảnh: Internet) 


Cho đến lăng mộ của Pharaoh Tutankhamun


Pharaoh Tutankhamun là vị vua của Vương triều thứ 18 thời kì Tân Vương quốc Ai Cập cổ đại. Có lẽ, Tutankhamun là một trong những vị Pharaoh nổi tiếng nhất trong lịch sử, không phải vì các công lao ông đóng góp cho Đế chế Ai Cập Cổ đại (ông mất rất trẻ khi chưa có nhiều cống hiến cho Đế chế) mà bởi vì khu lăng mộ lẫy lừng của ông.

Đây là một trong rất ít những lăng mộ của các Pharaoh Ai Cập Cổ đại không hề bị kẻ trộm mộ đột nhập. (Ảnh: Internet) 


Ngoài đồ tùy táng cực kì quý giá, đặc biệt là cỗ quan tài bằng vàng ròng; lăng mộ của Pharaoh Tutankhamun còn nổi tiếng với các câu chuyện huyền bí về lời nguyền của vị Pharaoh trẻ tuổi gieo rắc lên đầu những ai dám đột nhập nơi an nghỉ của ông.


Các nhà khoa học nghiên cứu lăng mộ Tutankhamun đã tìm thấy những bằng chứng cho rằng đằng sau bức tường của chính phòng chứa thi hài vua Tut còn tồn tại một căn phòng bí mật khác. Họ vẫn đang tìm kiếm câu trả lời và đang dần dần vén được bức màn bí ẩn nơi lăng mộ vị vua xấu số.

Cỗ quan tài bằng vàng ròng của Pharaoh Tutankhamun. (Ảnh: Internet) 


Vương quốc Ai Cập Cổ đại luôn chứa đựng những điều bí ẩn làm đau đầu giới khoa học. Càng đi sâu vào nghiên cứu, những bí mật mới lại xuất hiện, khiến qua bao thế kỉ nay, sức hút của nền văn minh Ai Cập Cổ đại đến thế giới vẫn chưa bao giờ là suy giảm.

Những bí ẩn của Ai Cập Cổ đại chưa bao giờ chấm dứt. (Ảnh: Internet)

Thứ Ba, 6 tháng 12, 2016

Thành phố bí ẩn dưới băng – Dự án quân sự bí mật của chính phủ Mỹ thời chiến tranh lạnh

Có 1 thành phố bị lãng quên nằm dưới lớp băng ở Greenland, Đan Mạch. Hàng thập kỷ qua, thành phố này ẩn chứa 1 dự án bí mật và nó có thể dẫn đến mối de dọa nghiêm trọng đối với đại dương chúng ta trong tương lai.


Trong Chiến tranh Lạnh, Mỹ đã cho xây dựng thành phố ngầm bí mật mang tên Camp Century ở Greenland, Đan Mạch.

Thành phố ngầm bí mật của Mỹ mang tên Camp Century. (Ảnh: Internet)


Thành phố ngầm bí mật của Mỹ mang tên Camp Century hay còn được gọi là “thành phố ngầm dưới băng” được xây dựng trên đảo Greenland năm 1959. Căn cứ quân sự bí mật này là nơi Mỹ thực hiện nhiều thí nghiệm trong thời gian Chiến tranh Lạnh như dự án Iceworm (Sâu băng) nhằm lắp đặt và lưu trữ tên lửa hạt nhân tầm trung bên dưới lớp băng Bắc Cực.

Kể từ khi đưa vào hoạt động, căn cứ tuyệt mật Camp Century với diện tích rộng khoảng 140 km2 là nơi làm việc của khoảng 11.000 người. Tuy nhiên, đến năm 1967, Mỹ đã rời bỏ Camp Century và bỏ hoang căn cứ quân sự tuyệt mật này sau khi phát hiện môi trường tại đây không ổn định. Trước khi rời đi, Mỹ chôn nhiều chất thải độc hại bên dưới những lớp băng dày hàng chục mét. Khi đó, các chuyên gia tin rằng, số rác thải nguy hiểm này sẽ an toàn, mãi “ngủ vùi” trong lớp băng dày đó.

Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu mới được công bố trên tạp chí Geophysical Research Letters do các nhà khoa học tại ĐH York, Canada khiến mọi người vô cùng bất ngờ và lo lắng. Bởi lẽ, lớp băng bao phủ Camp Century ở Bắc Cực có thể bắt đầu tan chảy vào cuối thế kỷ này. Khi đó, cơ sở hạ tầng của Camp Century sẽ dần lộ ra bên ngoài. Cùng với đó là các chất thải độc hại như sinh học, hóa học, chất phóng xạ…sẽ xâm nhập vào đại dương, ảnh hưởng đến hệ sinh thái biển.


Theo ước tính, lượng chất thải của Camp Century bao phủ diện tích 55 ha (0,55 km2), bao gồm 200.000 lít dầu diesel, một lượng lớn nước làm mát chứa nhiễm phóng xạ nồng độ thấp từ máy phát điện hạt nhân và Polychlorinated Biphenyls (PCBs), chất gây ô nhiễm độc hại cho con người.

Theo tính toán của các nhà khoa học, lớp băng vĩnh cửu bao phủ địa điểm độc hại này sẽ tan chảy hết vào năm 2090. Khi đó, con người sẽ phải đối diện với thảm họa môi trường tồi tệ, ảnh hưởng lớn đến môi trường và sức khỏe của con người.

Một số chuyên gia nhận định nếu không có những giải pháp xử lý, khắc phục vấn đề trên ở Camp Century thì nó sẽ khiến mối quan hệ giữa Mỹ với Greenland và Đan Mạch trở nên căng thẳng.

Thứ Hai, 5 tháng 12, 2016

Atlantis của Split: Con đường đá bí ẩn chìm dưới biển Địa Trung hải


Mới đây, các thợ lặn Croatia đã tìm thấy một con đường cổ xưa bị chìm xuống vùng biển Adriatic, gần Split. Nó dấy lên suy đoán rằng có một thành phố bị chìm được xây dựng bởi nền văn minh cổ xưa chưa rõ.

Các thợ lặn Croatia đã tìm thấy một con đường cổ xưa ở dưới biển Adriatic.


Phát hiện đáng chú ý này được gọi là “Atlantis của Split”. Các thợ lặn đã lên kế hoạch khám phá khu vực. Các nhà nghiên cứu chưa biết chắc con đường sẽ dẫn đến đâu.


Ngoài ra, có vẻ phát hiện này khiến vùng biển Adriatic hấp dẫn hơn và chắc chắn sẽ kích thích các nhà khoa học khám phá khu vực.


Theo báo cáo của HRT, con đường cổ xưa này được phát hiện bởi các thợ lặn của các câu lạc bộ thám hiểm dưới nước Mornar ở Split, Croatia.


Nhóm thợ lặn thám hiểm không định tìm kiếm thành phố Atlantis, mà tìm sà lan của Đức bị chìm từ Thế chiến II và bất ngờ phát hiện ra thứ gì đó giống như một con đường.


Petra Hrnjak đến từ PIK Mornar, Split nói: “Theo tôi, nó không phải được hình thành tự nhiên, ‘con đường’ thực sự giống như được tạo nên“.

Những phiến đã trên con đường xếp khít nhau một cách kì lạ.


Các thợ lặn cho hay, họ đã rất kinh ngạc khi con đường dài đến hơn 1km, chạy xuyên đến giữa kênh vào tạo thành một đường cong nhẹ nhàng hướng đến Supetar. Họ đoán rằng đây có thể là con đường kết nối Split và Supetar ở Brac, nhiều khả năng là từ rất xa xưa.


“Tôi đã lặn 40 năm và chưa bao giờ thấy bất cứ điều gì như thế này trước đây“, Ivan Bronzovic cho biết.


Trước khi các thợ lặn khám phá ra con đường chìm, trong khu vực đã tồn tại truyền thuyết về nó trong 10 năm, Ivan Bronzović đến từ PIK Mornar cho biết.

Các thợ lặn hy vọng những cuộc thám hiểm tương lai sẽ giải đáp được nền văn minh nào đã xây dựng nên con đường này.


Những thông tin về con đường này không rõ ràng nên đến nay người ta vẫn chưa biết nó do nền văn minh nào xây dựng nên. Họ hy vọng các cuộc thám hiểm tương lai sẽ giải đáp được điều này.


Con đường dưới biển rộng 7m được tạo nên từ những khối đá xếp khít nhau. Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng cần phỉ nghiên cứu nhiều hơn trước khi kết luận con đường này một phát hiện khảo cổ hay là kết quả của lượng lượng thiên nhiên.


Các thành viên trong câu lạc bộ Thám hiểm dưới biển nói rằng: nếu nó là tác phẩm của tự nhiên thì đây là lần đầu tiên họ đi trên con đường bằng đá xếp khít nhau đến vậy.


Con đường này không phải là phát hiện đầu tiên trong khu vực. Người ta cũng tìm thấy các vòng tròn kì lạ ở vùng biển phía Bắc Split. Chúng cách đều nhau và nằm xung quanh một số đảo.

Chủ Nhật, 4 tháng 12, 2016

Điều gì đã xảy ra với vương quốc Lechia bị lãng quên?

Ngày nay, nhiều văn bản chính thức đều viết rằng người Ba Lan đến từ bộ tộc Polanie, và theo các tác giả người Kitô giáo thì đó cũng là vương quốc đầu tiên hình thành trên vùng đất này. Tuy nhiên, sự thật không phải vậy và lịch sử Ba Lan đã bị hiểu lầm trong nhiều thập kỷ qua.


Có một tấm biển nhỏ bằng cẩm thạch tại Museo del Lapirdario di Urbino ở Italy với một dòng chữ viết “một cống hiến từ Tiberius Claudius cho Avillo Leszko, người cai trị của Vương quốc Lechia“. Tiberius, vị Hoàng đế La Mã thứ hai, đã tặng cho người cai trị khác là Avillo Leszko một ngôi mộ cho những chiếc bình đựng di cốt, trong khi ông này vẫn còn sống. Đó là một món quà rất đắt giá, cho thấy tầm quan trọng của người cai trị vùng đất mà ngày nay là Ba Lan.


Dòng chữ này có ý nghĩa rằng Đế chế La Mã đã kết giao với Vương quốc Lechia. Hơn nữa, vị vua của vương quốc bị lãng quên này đã được một hoàng đế La Mã công nhận. Câu chuyện về vương quốc này được biết đến trong nhiều thế kỷ, nhưng nó không xuất hiện trong các sách lịch sử ở trường.


Câu chuyện về vương quốc Ba Lan này bắt đầu từ năm 966, với Mieszko I và bộ tộc có tên là Polanie. Về lịch sử Ba Lan, các tác giả thường bắt đầu với những câu chuyện về bộ tộc sống ở khu vực này, nhưng sau đó họ giải thích rằng người cai trị đầu tiên là Mieszko I, sống trong thế kỷ thứ 10.

Chân dung Mieszko I do Jan Matejko phác họa.


Tài liệu về các vị vua bị lãng quên


Có nhiều vị vua Lechia đã hoàn toàn bị bỏ qua trong hầu hết các sách về Ba Lan. Tuy nhiên, sự tồn tại của vương quốc này được khẳng định từ những bản đồ do các sử gia và nhà vẽ bản đồ cổ đại tạo ra. Tấm bản đồ đầu tiên được biết đến cho thấy vương quốc này có từ năm 700 Trước Công nguyên, và nó xuất hiện trên bản đồ cho đến năm 887.


Ngoài ra, nhiều văn bản thời cổ đại và sơ kỳ trung cổ đều đề cập đến Lechia. Ngay cả những cuốn sách cổ điển đầu tiên của Ba Lan, một biên niên sử viết bởi Gall Anonim, cũng đề cập đến sự tồn tại của vương quốc này. 13 trong số 23 biên niên sử thời trung cổ hiện có của Ba Lan nói về Vương quốc Lechia.


Ví dụ, những câu chuyện về Lechia xuất hiện trong các tài liệu của nhiều nhà văn nổi tiếng như Wincenty Kadłubek (thế kỷ 13), Jan Długosz (thế kỷ 15), Karcin Kromer (thế kỷ 16), và Benedykt Chmielowski (thế kỷ 18). Biên niên sử lâu đời nhất có từ thế kỷ thứ 4 – thế kỷ thứ 8 và được viết bởi Wojnan.

Đài tưởng niệm Gall Anonim, Wrocław, Ba Lan.


Những người tạo ra Vương quốc Lechia hẳn phải có những chiến binh được huấn luyện thuần thục vì vùng đất này không bị chinh phục, nhưng không phải vì các đội quân hùng mạnh bỏ qua nó. Người ta biết rằng cả Hy Lạp, Ba Tư, La Mã, Byzantine (Đông La Mã), và Vương quốc Frank đều cố gắng chinh phục các vùng đất gần sông Vistula. Tuy nhiên, không ai trong số họ có thể làm được điều đó.


Ngoài ra, xét nghiệm ADN thực hiện trên hài cốt người Slav cổ đại chứng minh rằng họ đã thống trị khu vực của Vương quốc Lechia ít nhất 7.000 năm trước đây.


Những câu chuyện về Vương quốc Lechia cũng nổi tiếng tại La Mã, Ottoman, và các tác phẩm Balkan. Nhưng vì một số lý do nào đó mà các nhà nghiên cứu Ba Lan thường nói rằng Vương quốc Lechia chỉ là truyền thuyết hay chuyện cổ tích.

Minh họa từ Chronica Polonorum miêu tả “Lech” người sáng lập huyền thoại của Lechia.


Những lý do này có thể được tìm thấy vào cuối thế kỉ 18 và thế kỷ 19, khi Ba Lan không tồn tại như một quốc gia độc lập. Sau khi phân chia Ba Lan vào năm 1772, 1793, và 1795, lãnh thổ của nước này bị chia rẽ giữa Đức, Nga và Áo. Trong khi người Áo không cố tạo ảnh hưởng lịch sử trên vùng đất mới này, thì Đức và Nga lại muốn tiêu diệt lòng yêu nước và ý chí của những người Ba Lan khởi nghĩa. Vì vậy, họ có thể đã quyết định loại bỏ các thông tin liên quan đến Ba Lan.


Họ có thể đã hy vọng rằng xã hội Ba Lan sẽ dễ dàng thao túng hơn nếu người dân nước này tin rằng sự hỗ trợ duy nhất của họ phải đến từ tôn giáo, vì đất nước của họ “không có ý nghĩa gì” trước đó. Tất nhiên, các quốc gia sẽ không hợp tác làm việc này, nhưng nếu họ có kế hoạch đó thì họ đã thành công.


Thật không may, hầu hết các nhà sử học đã không cố gắng thay đổi niềm tin này trong những năm sau đó. Tuy nhiên, một tác gia viết sách về Vương quốc Lechia, Janusz Bieszk đã cố nhắc nhở người dân Ba Lan về gốc rễ của họ. Hiển nhiên, tác phẩm của ông đã bị một số nhà sử học lỗi thời chỉ trích, cho thấy rằng phải mất một thời gian dài nữa thì những việc này mới được chấp nhận.


Tranh phúng dụ về sự chia cắt lần 1 của Ba Lan, cho thấy Catherine Đại đế của Nga (trái), Joseph II của Áo và Frederick Đại đế của nước Phổ (phải) cãi nhau.


Bị mất kết giao với Vương quốc

Vương quốc Lechia có mối giao hảo rất tốt với các vương quốc khác. Như đã đề cập ở trên, họ được Đế chế La Mã tôn trọng, nhưng họ cũng được công nhận bởi người Scythia hoặc người dân Anatolia. Những người dân trong vương quốc được gọi là Lechici, và trong các tác phẩm Ottoman họ xuất hiện như một bộ tộc sống trên vùng đất của ”Lechistan”.


Điều đáng tiếc là vô số hiện vật liên quan đến vương quốc bị lãng quên này được thay thế bằng công trình xây dựng mới trong những năm qua. Nhiều sự kiện về vương quốc cổ đại này vẫn đang chờ đợi được khám phá, nhưng tác động chính trị của họ đến các vương quốc lân cận cũng được biết đến.


Nếu các nhà sử học chính thức chấp nhận sự tồn tại của vương quốc Lechia, họ cũng sẽ phải đồng ý rằng hầu hết các địa điểm tiền Kitô giáo ở Ba Lan có lẽ thuộc về những người này. Điều này sẽ mở ra một nghiên cứu mới về lịch sử sớm nhất của Ba Lan.

Thứ Năm, 1 tháng 12, 2016

Cây giáo 9.000 năm tuổi thay đổi lịch sử Ba Lan

Một cây giáo bằng gỗ độc đáo có từ 7.000 Trước Công nguyên đã được phát hiện tại Bolków gần hồ Świdwie ở Tây Pomerania – Ba Lan, khiến lịch sử của vùng đất này thay đổi.

Cây giáo được phát hiện ở Ba Lan được làm từ gỗ cây tần bì.


Các nhà khảo cổ đã tìm thấy cây giáo dưới lòng dất khoảng 1 mét tại một khu điện thờ 9.000 năm tuổi. Gazeta Wyborcza cho biết, cây giáo dài khoảng 40 cm và rộng 10cm này được bảo tồn tốt, được làm từ gỗ tần bì với chiều với hình dạng giống mái chèo dài.


Đây là cây giáo độc nhất do niên đại của nó, và là vật trang trí ấn tượng với tính biểu tượng phong phú cả về hình học và hình tượng động vật, cũng như ở những cảnh theo nghi thức.


Dựa vào những vết chạm khắc, các nhà khoa học kết luận rằng cây giáo đã được sử dụng trong các nghi lễ Mesolithic bí ẩn thuộc thời đại đá giữa, được thực hiện bởi những người dân sống định cư gần hồ. Nó đã được kiểm tra X-quang và kết quả cho thấy sự phối hợp khác nhau giữa các chuỗi hình học và hình chạm khắc của người và động vật.

Cây mác bằng gỗ được tìm thấy gần Hồ Świdwie, Ba Lan.


Theo trưởng nhóm nghiên cứu, Giáo sư Tadeusz Galiński đến từ chi nhánh Szczecin của Viện Khảo cổ học và Dân tộc học PAS, cây giáo rất phổ biến trong các xã hội Mesolithic, được dùng như các công cụ trang trí và mặt hàng thủ công khác. Các nhà khảo cổ cũng tìm thấy các chạm khắc tương tự trên các vật làm bằng xương, gỗ, hổ phách, đá ở Bolków và các vùng khác của Châu Âu. Những hình ảnh miêu tả trên các vật này là bằng chứng cho thấy hệ thống tín ngưỡng phong phú đã tồn tại trong các xã hội tiền sử.


Hình ảnh chính được mô tả trên cây mác là một cảnh nghi lễ với ba người – một trong số họ đeo mặt nạ nghi lễ đặc trưng với sừng hươu. Các nhà nghiên cứu tin rằng người này có thể là một pháp sư trong bộ lạc. Người thứ hai khỏa thân và đang nhảy múa. Người thứ ba khoác một miếng vải dài và cầm thứ gì đó trong tay, có thể là để hiến tế cho các vị thần.

Ảnh minh họa một pháp sư ở Siberia, được phác họa bởi nhà thám hiểm người Hà Lan Nicolaes Witsen vào cuối thế kỷ thứ 17.


Một chi tiết khác là hình khắc về khu đinh cư, các nhà khoa học còn nhìn thấy hình ảnh động vật và các loài chim rừng. Ngoài ra còn có một chuỗi ký tự không rõ, và các nhà nghiên cứu cho rằng đó có thể là một loại bùa chú.


Bằng chứng về các nghi lễ Mesolithic bí ẩn tại Bolków được khai quật đầu tiên vào năm 2012. Trong những lần khai quật trước, các nhà nghiên cứu phát hiện ra một lư hương bằng gỗ dùng trong nghi thức tạo khói để đuổi tà ma ở xung quanh, trong con người và các vật thể. Ngoài ra, họ còn tìm thấy một bó gồm những mảnh gỗ, vỏ cây, cây thân thảo, và xương động vật có thể là vật cúng tế của pháp sư.


Giáo sư Galiński nói với PAP: “Sự hiến tế là một biểu hiện của niềm tin vào quyền hạn và lực lượng siêu nhiên. Mục đích của họ là để xoa dịu các vị thần. Họ thực hiện nhân danh tất cả các cư dân và các thành viên trong nhóm với sự tham gia của vị lãnh đạo tinh thần”.


Khuôn viên điện thờ là một vòng tròn có đường kính khoảng 6 mét. Có một số phiến đá lớn bên trong, và nhiều loại đá nhỏ hơn ở xung quanh như đá syenit, diorit, đá granit, đá thạch anh, đá sa thạch, đá gơnai, đá cẩm thạch đỏ, và đá syenit xanh. Điều ngạc nhiên nhất là người ta phát hiện cả hổ phách đen và bọt đá núi lửa.


Cuộc khai quật đã bắt đầu thay đổi lịch sử của vùng đất này, tuy nhiên các nhà nghiên cứu khẳng định rằng nó vẫn còn ẩn chứa nhiều bí mật.

Một nhà khảo cổ đang khai quật tại Bolków, Ba Lan.


Mặc dù cổ vật được phát hiện ở Ba Lan là cây giáo lâu đời nhất ở Châu Âu, nhưng tờ Ancient Origins hôm 31/8 cũng đưa tin về những dụng cụ nghi lễ thậm chí còn lớn tuổi hơn và có thể thay đổi hoàn toàn lịch sử.


Natalia Klimczak viết: ”Một bộ sưu tập đáng chú ý về sỏi đá vôi khắc có thể thay đổi kiến thức của chúng ta về thời tiền sử ở phía Đông Địa Trung Hải. Hơn nữa, một cái đầu chim xinh đẹp, được khắc vào một tấm biển đá vôi 16.500 năm trước đây, có thể là một trong những vật nghi lễ cổ xưa nhất từng được tìm thấy ở miền Cận Đông”.


Times of Israel cho biết, bộ sưu tập sỏi đá vôi khắc đã được tìm thấy bên bờ sông Kishon ở Ein Qashish, thung lũng Jezreel, Israel. Một trong số chúng được khắc hình đầu chim và có thể là một trong những vật dụng nghi lễ cổ xưa nhất từng được tìm thấy tại Đất Thánh.


Bản khắc đầu chim.


Tất cả những hình khắc được tạo ra trên sỏi đá vôi từ khoảng 23.000 và 16.500 năm trước đây. Khi các nhà nghiên cứu viết trong bản nghiên cứu công bố ngày 24/8 trên tạp chí trực tuyến PLos One, phát hiện này là “bằng chứng hiếm hoi về các biểu tượng hình ảnh được sử dụng vào cuối thời săn bắt hái lượm kỷ Pleistocen tại vùng Cận Đông“.


Việc xác định niên đại bằng carbon phóng xạ đã co thấy những cổ vật này được tìm thấy trong cùng một lớp đá vào khoảng 23.000 năm trước, trong khi những mảnh khác vào khoảng từ 15.000 đến 17.000 năm trước. Tuy nhiên, các công cụ bằng đá nhỏ khác được khắc hình đầu chim lại bắt nguồn từ thời đại đá giữa, ngay trước ánh bình minh của ngành nông nghiệp.

Thứ Tư, 30 tháng 11, 2016

Những câu chuyện về sự trùng hợp đến khó tin trong lịch sử


Trong cuộc sống có những sự trùng hợp ngẫu nhiên đến khó tin và không thể giải thích được, khiến con người luôn tự hỏi liệu những điều kỳ lạ này có ẩn chứa bí mật nào hay không.



Michael Jackson có gương mặt giống với một bức tượng nhân sư Ai Cập 3.000 năm tuổi. (Ảnh: Internet)

1. Bức tượng nhân sư Ai Cập 3.000 năm tuổi có nét mặt giống Michael Jackson

Bức tượng nhân sư ở New Kingdom được xây khoảng năm 1550-1050 TCN cùng khoảng thời gian với các vị Pharaoh nổi tiếng như Ramesses, vua Tut,… Bức tượng bằng đá vôi này có má hơi gầy, mắt xếch, mũi và môi mỏng, trông rất giống với gương mặt của ông vua nhạc pop Michael Jackson. Câu hỏi đặt ra là tại sao một tác phẩm có từ 3000 năm trước lại giống một người ngày nay đến vậy? Phải chăng đó chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên hay điều gì đó nằm ngoài sức tưởng tượng của con người?

2. Enzo Ferrari, người sáng lập Ferrari qua đời năm 1988 và cầu thủ Mesut Ozil sinh năm 1988 giống ông như đúc

Enzo Ferrari và cầu thủ Mesut Ozil giống nhau như đúc. (Ảnh: Internet)

Điều kỳ lạ là 2 nhân vật nổi tiếng này giống hệt nhau dù không có quan hệ huyết thống, thậm chí không cùng một dân tộc. Một người là nhà sáng lập dòng xe thể thao của Ý. Người kia là cầu thủ chủ chốt của đội tuyển quốc gia Đức. Nhưng sự trùng hợp lớn nhất là Ferrari qua đời vào đúng năm Mesut được sinh ra.

3. Sự kỳ lạ trong cái chết của 2 anh em

Hai anh em mất trong 2 vụ tai nạn giống hệt nhau. (Ảnh: Internet)

Erskine Lawrence và Neville Ebbin là hai anh em hơn nhau một tuổi sống ở Hamilton, Bermuda. Cả hai đều thiệt mạng khi đang chạy cùng một chiếc xe máy va chạm với cùng một chiếc xe taxi, cùng một người lái xe, chở cùng một hành khách trên cùng một giao lộ. Hai vụ tai nạn chỉ khác là xảy ra cách nhau một năm, người em tử vong vào đúng ngày giỗ của anh mình. Đây là một trong những vụ trùng hợp kỳ lạ nhất trong lịch sử.

4. Sự ra đời của kiểm định vân tay

Có 2 William West giống hệt nhau cùng đến một nhà tù. (Ảnh: Internet)

Năm 1903, William West đến nhà tù Leavenworth, một nhân viên khẳng định rằng ông đã từng ở đó. Trên thực tế, một người đàn ông khác cũng tên William West giống anh như đúc đã từng đến nhà tù. Nhìn vào sổ đăng ký, William West đã bị sốc khi tên và ảnh của mình trên đó trong khi ông chưa bao giờ đến Leavenworth. Kể từ đó, nhận diện vân tay được áp dụng để nhận diện chính xác con người.

5. Mark Twain và sao chổi Halley

Mark Twain đến và đi cùng sao chổi Halley. (Ảnh: Internet)

Mark Twain được sinh ra sau khi sao chổi Halley xuất hiện vào năm 1835 và ông đã chết sau khi sao chổi Halley trở lại vào năm 1910. Điều kỳ lạ hơn là những gì ông nói một năm trước khi ông qua đời.

“Tôi đến với sao chổi Halley năm 1835. Nó sẽ đến một lần nữa vào năm tới, và tôi mong chờ được đi chơi với nó. Sẽ là sự thất vọng lớn nhất của cuộc đời tôi nếu tôi không ra ngoài với sao chổi Halley”.

6. Đến chết vẫn bị sét đánh

Thiếu tá Summerford sau khi chết vẫn bị sét đánh. (Ảnh: Internet)

Thiếu tá Summerford là một sĩ quan thuộc quân đội Anh. Tháng 2/1918, khi đang ở Flanders, Bỉ, ông bị một tia sét đánh trúng khiến người bị liệt từ thắt lưng trở xuống. Đến năm 1924, khi ông chuyển tới Vancouver, Canada, thì một lần nữa các tia sét lại đánh trúng ông khi ông đang ở bờ sông. Hai năm sau ông mất, nhưng điều này không đồng nghĩa với việc ông thoát khỏi sự ám ảnh về sét. Bốn năm sau khi ông chết, ngôi mộ của ông cũng lại bị sét đánh vỡ.

Chủ Nhật, 27 tháng 11, 2016

Axum: Vương quốc Ethiopia cổ xưa biến mất bí ẩn

Vương quốc Axum là chủ đề của vô số huyền thoại. Nó được cho là quê hương của nhân vật bí ẩn Prester John, là vương quốc đã biến mất của Hoàng hậu Sheba hay nơi đặt cuối cùng của Chiếc hòm Giao ước.

Vương quốc Axum là chủ đề của vô số huyền thoại.


Nằm trên vùng Sừng châu Phi, vương quốc Ethiopia cổ đại – Axum (hay Aksum) đóng vai trò quan trọng trong quan hệ quốc tế vào khoảng thời gian đầu của thiên niên kỷ. Ở thời kỳ đỉnh cao, Axum kiểm soát vùng đất bao gồm Ethiopia, Eritrea, Sudan, Tây Yemen, miền nam Ả Rập Saudi, và một phần Somalia ngày nay.


Mặc dù phần lớn đã bị lãng quên, nhưng vẫn có những tài liệu tham khảo để người Ethiopia có thể thấy được nguồn cội của mình như Kinh Thánh, Kinh Koran, Trường ca Iliad và Thần Khúc. Một vương quốc được ca ngợi rộng rãi như vậy phản ánh tầm ảnh hưởng và sức mạnh đã từng tồn tại của Đế chế Axumite giàu mạnh.


Sự mở rộng Axum



Đầu tiên, những người Agaw địa phương thuộc miền bắc Ethiopia bắt đầu định cư và mở rộng thành phố Axum vào khoảng năm 400 TCN. Đến giữa thế kỷ thứ 2 TCN, Axum phát triển thành một vương quốc vượt trội trong khu vực. Điều này phần lớn nhờ các đạo luật giao thương hàng hải mở rộng với Đế chế La Mã. Sở hữu vị trí lý tưởng nằm trên Biển Đỏ, vương quốc này nằm tại ngã tư giao với 3 lục địa gồm châu Phi, bán đảo Ả Rập và thế giới Hy Lạp-La Mã; và là quốc gia hùng mạnh nhất giữa Đế chế Đông La Mã và Ba Tư.


Sừng châu Phi là vùng đất vô cùng màu mỡ và Axum xuất khẩu một loạt các sản phẩm nông nghiệp từ lúa mì, lúa mạch đến động vật như cừu, bò, lạc đà. Vương quốc này cũng giàu quặng vàng, sắt và muối, một mặt hàng quý giá thời đó. Axum cũng kiểm soát buôn bán xuất khẩu ngà voi ra khỏi Sudan.


Trong trao đổi hàng hóa, nó vận chuyển mai rùa, gia vị, tơ lụa, ngọc lục bảo, hàng tinh xảo giữa Rome và Ấn Độ. Tầm quan trọng của Ethiopia như một trung tâm thương mại đã được minh chứng trong cuốn sổ tay mang tên Cẩm nang hàng hải vùng biển Erythrae có niên đại từ thế kỷ 1 của một thương nhân đến từ Alexandria.

Vị trí vương quốc Axum.


Thời đại Hoàng kim của Axum


Thời đại hoàng kim của vương quốc Axum là từ thế kỷ 3 đến thế kỷ 5, bắt đầu với vị vua Ezana danh tiếng, người đã chuyển đất nước này theo Thiên chúa giáo vào năm 324. Những đồng xu được đúc dưới thời vua Ezana là đồng tiền đầu tiên trên thế giới có hình ảnh cây thập tự. Ezana cũng đặt một tầm quan trọng rất lớn với các tài liệu văn bản được viết bằng ngôn ngữ bản địa Ge’ez.


Nhiều bản thảo cung cấp phần lớn thông tin về Axum mà chúng ta biết ngày nay, trong đó có những cái có niên đại ít nhất từ thế kỷ 8 TCN. Một số học giả tin rằng, một phòng viết (nhằm chép sách) có thể đã tồn tại ở miền Bắc Ethiopia, cung cấp tài liệu trong khu vực cũng như trong vùng thung lũng sông Nile.


Vương quốc Axum có một hệ thống phân cấp xã hội phức tạp và các thành phố được xây dựng theo kiến trúc công phu. Xã hội phân thành 3 tầng lớp, đứng đầu là vua chúa và quý tộc, thấp hơn gồm các thương gia giàu có và phú nông, cuối cùng là tầng lớp bình dân như nông dân, thợ thủ công, và thương nhân.


Các nhà khảo cổ đã phát hiện ra văn bản hành chính và những ngôi mộ nói lên rằng, giới ưu tú thích những tục lệ mai táng xa hoa, bao gồm cả di tích mộ gọi là đài kỷ niệm. Các tòa tháp hoặc bia tưởng niệm được trang trí tỉ mỉ với chữ khắc từ trên xuống dưới. Họ cũng có cửa đá và cửa sổ giả. Các tấm bia cao nhất là khoảng 30m.


Tảng đá Ezana ghi lại quá trình Quốc vương Ezana chuyển tôn giáo của đất nước sang Thiên chúa giáo và cuộc chinh phục các dân tộc láng giềng, gồm cả Meroë.


Tôn giáo


Ban đầu, Thiên chúa giáo được giới ưu tú Axum tin theo. Nó không phổ truyền rộng rãi trong dân chúng cho đến cuối thế kỷ 5 khi các nhà truyền giáo chạy trốn khỏi Đế chế Đông La Mã (Byzantium) trú ẩn tại Vương quốc Axum và được cho phép truyền giáo. Các giáo sĩ đã đến Giáo Hội Chính Thống Tewahedo Ethiopia vì họ tin theo Nhất thuyết tính.


Mặc dù nhiều đế quốc phương Tây chấp nhận Thiên chúa giáo trong thế kỷ 5 TCN, nhưng các cuộc tranh luận nổ ra về bản chất của Chúa Giêsu. Những tín đồ theo Nhất thuyết tính lập luận rằng, Chúa Giêsu có một bản tính duy nhất đó là sự tổng hợp của thần tính và nhân tính. Quan điểm này đã được Hội đồng Chalcedon gắn mác là dị giáo vào năm 451.


Người La Mã và Đông La Mã hùng mạnh tin vào Lưỡng tính luận, đó là Chúa Giêsu duy trì hai bản chất: một thần tính và một nhân tính. Cuộc tranh luận này chịu ảnh hưởng nặng nề bởi sự ganh đua chính trị và văn hóa, dẫn đến sự phân ly cuối cùng của Giáo Hội Chính Thống Đông Phương ra khỏi Giáo hội Chính Thống Đông-Tây.


Đế chế Axum cuối cùng suy giảm, nhưng Giáo Hội Chính Thống Tewahedo Ethiopia vẫn là một giáo phái thịnh vượng của Thiên chúa giáo, quản lý khoảng 45 đến 50 triệu người trên toàn thế giới.


Biểu tượng Ethiopia này cho thấy St. George, Chúa bị đóng đinh trên thánh giá, và Đức Mẹ Maria đồng trinh.


Sự biến mất bí ẩn của Axum


Các nhà sử học không chắc chắn chính xác nguyên nhân dẫn đến sự suy yếu của Vương quốc Axum nhưng họ đã đưa ra một số giả thuyết. Một trong những hành động đầu tiên vào mùa thu năm 520, khi vua Kaleb dẫn đầu một chiến dịch chống lại Vua Do Thái Dhu Nuwas đang bức hại các Kitô hữu ở Yemen.


Lực lượng Axum chiến thắng cuộc xung đột và bảo vệ được Thiên Chúa giáo ở Yemen, ít nhất là cho đến khi ra đời Hồi giáo, nhiều năm chiến đấu đã mở rộng sự giàu có và nhân lực của Axum. Ngoài ra, các cuộc chinh phục có thể đã đưa bệnh dịch Justinian vào Axum và tấn công Ethiopia trong khoảng thời gian đó. Bệnh dịch, đã tàn phá nghiêm trọng Đế chế Byzantium vào thế kỷ 6, và là trường hợp được ghi nhận đầu tiên của bệnh dịch hạch.


Ngoài các tai họa của chiến tranh và đại dịch, vào thế kỷ 7, Đế quốc Hồi giáo đã bắt đầu tiến nhập nhanh chóng trên Bán đảo A-rập và Bắc Phi. Giữa thế kỷ 7 và 8, Axum mất quyền kiểm soát Biển Đỏ và phần lớn sông Nile. Điều này không những khiến Axum bị cô lập kinh tế mà còn buộc hầu hết cư dân Thiên chúa giáo của thành phố di chuyển sâu vào nội địa để được bảo vệ.


Cuối cùng, một loạt biến đổi khí hậu đã đẩy người dân Ethiopia vào cảnh khốn khó. Phần lớn dân số Đế quốc Axumite bị dồn ép trên cao nguyên Tigrinya, cuối cùng dẫn đến sự xói mòn đất nghiêm trọng. Các nhà sử học tin rằng, quá trình này đã được đẩy nhanh bởi sự suy giảm lượng mưa rõ rệt trong khoảng năm 730 – 760. Điều này làm giảm sản lượng cây trồng đáng kể và tình trạng không hề cải thiện cho đến thế kỷ 9.


Mặc dù sụp đổ, thành phố Axum vẫn tồn tại đến ngày nay với dân số khoảng 50.000 người, trở thành thành phố có người ở lâu đời nhất châu lục này.

Thứ Sáu, 25 tháng 11, 2016

Hệ thống giao thương bí ẩn của người Celt


Trước khi đế quốc La Mã thống trị châu Âu, người Celt đã tạo ra một hệ thống giao thương rộng lớn cho phép họ trao đổi và buôn bán hàng hóa ở những nơi xa xôi. Đây có lẽ là chủ đề bí ẩn nhất của người Celt.


Người Celt đã tạo ra một hệ thống giao thương rộng lớn trước khi đế quốc La Mã thống trị châu Âu.

Các cuộc khai quật ở Trung Âu đã phát hiện ra một hệ thống giao thương rộng lớn trước cả khi đế chế La Mã thống trị châu Âu. Khám phá này cho thấy có thể con người trong thời đại đồ đồng đã biết đến nhau nhiều hơn chúng ta nghĩ. Tacitus, Diodorus Siculus, Caesar, Polybias, và Strabo đã viết về nó. Những văn bản cổ đại đã thực sự giúp các nhà nghiên cứu tìm thấy bằng chứng về các tuyến đường thương mại.

Giao thương của người Celt

Trước đây chúng ta cho rằng người Celt, là một nhóm đa dạng các bộ lạc thời kì đồ sắt và thời kì La Mã, chủ yếu tập trung ở Tây Âu, gồm xứ Wales, Scotland, Ireland, Brittany, Pháp… tuy nhiên sự thật không phải vậy, họ cũng xuất hiện ở Đông và Trung Âu. Từ đó các nhà nhà nghiên cứu tìm hiểu cách nhiều xã hội chịu ảnh hưởng của nền văn hóa mà hiện được biết đến là người Celt.

Trong vài thập kỷ qua, các nhà khoa học đã cố gắng tìm hiểu xem người La Mã đã tạo ra các tuyến đường bằng cách nào. Rõ ràng có nhiều tuyến đường chính đã tồn tại từ trước khi quân đội La Mã chinh phục các vùng đất đó.

Người Celt rất tháo vát, họ cũng có những chiến binh dũng cảm mạng lại nhiều lợi ích mà các bộ lạc khác chỉ có thể mơ ước. Họ có thể buôn bán nhiều mặt hàng gồm vũ khí và các vật dụng kim loại, đồ trang sức, quần áo và các mặt hàng da.




Một bia đá của người Celt từ Galicia.

Giao thương làm thay đổi nhiều thứ

Các tuyến đường giao thương của người Celt trải rộng khắp châu Âu và Trung Đông. Các chiến binh Celt đã chiến đấu ở Trung Đông, Anatolia, và thậm chí cả Ai Cập. Dù chưa rõ mối quan hệ giữa người miền Nam và Celt nhưng có đủ bằng chứng khảo cổ học để chứng minh nó tồn tại.

Điểm bí ẩn nhất dường như tập trung vào nơi giao thương xa nhất – khu vực Địa Trung Hải. Theo Becki VandenBoom đến từ Đại học New England tại Úc, quan hệ giao thương với Địa Trung Hải có 2 tác động chính vào xã hội Celt. Đầu tiên là tạo ra các khu định cư buôn bán rất lớn, tối thiểu 20-25 hecta, kiên cố và phụ thuộc lẫn nhau, xã hội Celt ở đây trở nên phụ thuộc vào người khác. Tác động thứ hai là xuất hiện các nhà lãnh đạo giàu có có thể giám sát và kiểm soát dòng chảy của hàng hóa.


Các khu định cư buôn bán của người Celt rất lớn.

Giao thương với các văn hóa khác nhau giúp người Celt giàu có hơn và cải thiện mức sống của các xã hội cụ thể. Nó cũng là vấn đề thú vị trong việc thu xếp chiến tranh và có được những đồng minh và kẻ thù mới. Vào thời cổ đại, bên cạnh sự thống trị thì vấn đề mậu dịch điều quan trọng nhất trong xã hội.

Giao thương châu Âu bị lãng quên

Lịch sử của các bộ lạc người Celt rất phức tạp và đầy bí ẩn, trong đó bí ẩn nhất là chủ đề mậu dịch. Mặc dù nhiều khía cạnh chi tiết về việc mua bán các mặt hàng đã được tìm hiểu qua những cuộc khai quật nhưng vẫn rất khó nắm bắt được chủ đề này.

Trong quá khứ có một số nhà nghiên cứu đã cố gắng lập bản đồ hệ thống giao thương của người Celt, nhưng các nhà khảo cổ cứ tìm được thông tin mới. Nhiều hàng hóa của người Celt được tìm thấy ở Trung Đông, trong khi các châu báu Ai Cập cổ đại đã được khai quật tại Ireland. Dự kiến trong tương lại sẽ có nhiều ngạc nhiên nữa.

Thứ Tư, 23 tháng 11, 2016

Phát hiện nhiều điều bất thường không thể giải thích tại kim tự tháp Bosnia


Một nhà khoa học Phần Lan khẳng định ông đã phát hiện một số điều bất thường tại các kim tự tháp Bosnia ở Visoko mà không thể giải thích như một hiện tượng tự nhiên.


Kim tự tháp ở Bosnia.


Theo thông tấn xã Patria (NAP), kỹ sư âm thanh người Phần Lan Heikki Savolainen tuyên bố rằng ông đã tìm thấy những điểm bất thường ở các kim tự tháp Bosnia tại Visoko.


Các chuyên gia âm thanh Phần Lan và Herzegovina đã ở Visoko, Bosnia, 1 tuần và thực hiện một loạt bản ghi âm điện từ, siêu âm và hạ âm ở thung lũng kim tự tháp Bosnia.


Savolainen nói rằng kết quả thu được thật tuyệt vời, và cho hay có một liên kết rõ rệt giữa điện từ và bức xạ siêu âm ở đỉnh kim tự tháp Mặt Trời và các đường hầm dưới lòng đất. Điều này cho thấy các đường hầm và kim tự tháp thực tế là một và cùng thực thể.


Kể từ khi quần thể kim tự tháp Bosnia được phát hiện bởi nhà khảo cổ học TS Semir Osmanagic của nước này, giới khảo cổ đã từ chối chấp nhận kết quả tìm được, và cho rằng công trình này là một trò lừa tinh vi. Tuy nhiên nghiên cứu đã chỉ ra rằng, chúng không chỉ là thật mà còn có thể là cấu trúc lâu đời nhất trên Trái Đất.


Theo một phân tích được thực hiện tại nơi này, ước tính các kim tự tháp Bosnia khoảng 29.200 năm tuổi.


Theo nghiên cứu, chùm “sóng siêu âm” tìm thấy tại kim tự tháp Mặt Trời phát xuất dưới dạng các khối 9.3333 Hz, có tần số cao nhất lên đến 28,3000 kHz. Ngoài ra các cuộc kiểm tra năng lượng cho thấy, mức độ ion hóa hơn 43.000 ion âm, cao hơn 200 lần nồng độ trung bình trong các các phòng dưới lòng đất có công dụng chữa bệnh.


Các xét nghiệm cũng xác định mức độ “bức xạ tiêu cực” qua các lưới đồ Hartman, Curry, và Schneider là bằng 0 trong đường hầm được phát hiện.


Các nhà khoa học Croatia cũng phát hiện thấy một chùm sáng với đường kính 4,5 m vào năm 2010, xuất hiện trên đỉnh Kim tự tháp Mặt Trời. Hiện tượng cũng đã được ghi nhận cách đó nửa vòng Trái Đất, ở bán đảo Yucatán (Châu Mỹ), tại Kim tự tháp “El Castillo”.




Chùm sáng phát ra từ đỉnh kim tự tháp Bosnia và kim tự tháp “El Castillo” ở bán đảo Yucatan, Mexico.


Kim tự tháp Bosnia nằm gần thị trấn Visoko, phía Tây Bắc Sarajevo được nhiều người xem là kim tự tháp nhân tạo lâu đời nhất đã được phát hiện trên hành tinh của chúng ta.


Kim tự tháp Mặt trời cao 220 mét, cao hơn cả Đại kim tự tháp Ai Cập với chiều cao 147m. Nhưng điều đáng nói là kim tự tháp ở Bosnia có mặt hướng về phía Bắc, với sai số chỉ 0 độ 0 phút 12 giây.


Sự chính xác đáng kinh ngạc này khá tương tự Đại kim tự tháp Ai Cập được sắp thẳng hướng Bắc thật của Trái Đất (hay hướng Bắc địa dư); chỉ sai lệch 3/60 của một độ, biến nó thành công trình được sắp hàng chính xác nhất hiện nay. Vị trí cực Bắc dịch chuyển theo thời gian, nên kim tự tháp đã được sắp chuẩn thẳng hàng vào một thời điểm trong quá khứ.

Thứ Ba, 22 tháng 11, 2016

Bí ẩn xác ướp 500 năm tuổi của cô gái không bị phân hủy


Năm 1999, một nhóm khảo cổ đã phát hiện 3 xác ướp đông lạnh ở độ cao 6700 mét. Điều khiến mọi người bất ngờ những xác ướp này không hề bị phân hủy mà vẫn còn máu chảy ở trong tim. Sự việc này nhanh chóng được chia sẻ và nhận được sự chú ý từ phía dư luận.


Theo thông tin từ các nhà khảo cổ, 3 xác ướp đó có 1 bé gái 6 tuổi, 1 bé trai 7 tuổi và 1 cô gái trong khoảng 13 đến 15 tuổi. Những thi thể này được các nhà khảo cổ gọi với cái tên “tiên đá Ấn Độ”.



Mặc dù bị rơi xuống từ độ cao 6700 mét nhưng tất cả 3 thi thể vẫn nguyên vẹn không hề có dấu hiệu tổn thương, da vẫn có tính đàn hồi và tư thế như đang ngồi ngủ.



Cô gái có tên Jianpi choàng chiếc khăn màu xám, đầu cúi về phía trước. Vì được bảo quản trong tủ đông lạnh nên nội tạng của vẫn còn nguyên vẹn, não vẫn hoạt động và thậm chí máu vẫn còn trong tim.



Các nhà nghiên cứu Anh của Đại học Bradford đã phát hiện ra bí ẩn cái chết của cô, là do cô gái đã sử dụng liều lượng lớn cocain và rượu. Chính điều này đã dẫn đến cái chết của cô, tuy nhiên thi thể vẫn còn nguyên vẹn, không hề bị phá hủy.

Thứ Hai, 21 tháng 11, 2016

Cự thạch Baalbek: Bằng chứng cuối cùng của công nghệ cổ đại biến mất bí ẩn


Baalbek tự hào với những khối đá khổng lồ vừa khít hoàn hảo nối với nhau tạo thành một trong những công trình cổ đại bí ẩn lớn nhất hành tinh, và nếu trên Trái Đất từng tồn tại công nghệ cổ đại tiên tiến thì các cự thạch đó chắc chắn là bằng chứng còn sót lại.

Một phần tàn tích ở Baalbek, Lebanon.


Tàn tích Baalbek có tên gọi là Đền Jupiter nằm ở miền Đông Lebanon, cách thành phố Beirut, trong thung lũng của Beqaa, gần biên giới với Syria, 86 km về phía Đông Bắc.


Theo các chuyên gia, quay lại gần 10.000 năm trước, nơi đây là một thành phố cổ được đặt tên theo thần Ba’al. Truyền thuyết Phoenicia cho rằng Baalbek là vị trí ban đầu thần Ba’al đến Trái Đất trong thời cổ đại.


Tuy nhiên, thực tế không ai có thể chắc chắn địa điểm cổ đại này đã tồn tại bao lâu. Nhiều người tin rằng Baalbek đã hơn 10.000 năm, thậm chí có thể đến 20.000 năm, là một trong những nơi lâu đời nhất trên hành tinh.


Công trình cổ đại này gồm một cái sân rộng lớn được xây cất trên nền đất rộng mà ngày nay vẫn còn 3 bức tường khổng lồ ngăn đỡ. Những bức tường ngăn này được hình thành từ 27 khối đá vôi, với kích thước lớn hơn bất kì khối đá vôi nào có thể được tìm thấy trên thế giới. Mỗi khối đá nặng ít nhất là 300 tấn, đặc biệt trong đó có 3 khối đá nặng hơn 800 tấn nổi tiếng với tên gọi “Đại Tam Thạch” (Trilithon).


Đại Tam Thạch tại tàn tích đền Jupiter.


Sự hùng vĩ của “điện thờ” khổng lồ này đã khiến các học giả không thể hiểu được làm thế nào hay tại sao nó được dựng lên, và rằng việc con người nguyên thủy vào hàng ngàn năm trước sử dụng các công cụ thời Đồ Đồng sớm để vận chuyển, cắt và đặt khối đá lớn như vậy vào vị trị mong muốn nghe có vẻ khó tin.


Gần lối vào phía nam của Baalbek là một mỏ đá, nơi đá được khai thác cho đền thờ. Không có bất kì dấu vết nào về một con đường hay lối vận chuyển có thể được tìm thấy giữa mỏ đá và ngôi đền.


Ngoài ra, tại khu vực mỏ đá còn có một tảng đá nguyên vẹn đã được xử lý lớn nhất Trái Đất. Nó có tên là “Tảng Đá Thai Phụ” (Stone of the Pregnant Woman) ước tính nặng 1650 tấn, với kích thước 21,5m x 4,8m x 4,2m. Với kĩ thuật ngày nay, phải cần 24 cần cẩu hạng nặng mới có thể chỉ nhấc nó lên được, nhưng di chuyển nó là điều không tưởng.


Điều này cũng nêu ra câu hỏi về cách thức vận chuyển những khối đá tảng 800 tấn tới địa điểm xây dựng, nếu chúng từng thật sự được vận chuyển.


Tảng Đá Thai Phụ là khối đá nguyên vẹn đã được xử lý lớn nhất Trái Đất.


Các nhà khảo cổ đã đưa ra giả thuyết rằng hàng ngàn người đàn ông, với công nghệ đơn giản như gậy và đá, đã tham gia xây dựng và vận chuyển các khối đá khổng lồ. Tuy nhiên, một số nhà nghiên cứu khác lại phản bác điều này khi nói rằng, theo toán học thì điều này không thể xảy ra. Vậy nếu không có công nghệ hiện đại như chúng ta ngày nay thì người cổ đại đã xây dựng điện thờ đó bằng cách nào?


Nhiều người cho rằng việc thiếu tài liệu tham khảo về việc xây dựng Đền Jupiter thậm chí khiến nó càng đáng ngờ hơn. Họ đặt câu hỏi rằng tại sao không có bất cứ hồ sơ nào cho biết thông tin về những người xây dựng? Tại sao một công trình lớn như vậy lại không có tài liệu tham khảo?


Có một liên kết bị mất lớn khi nói đến Baalbek. Phải chăng tàn tích này do một nền văn minh cổ đại sở hữu công nghệ tiên tiến xây dựng nên? Công nghệ mà bây giờ đã bị mất? Một công nghệ mà thậm chí có thể giúp tạo ra nhiều công trình cự thạch khác trên khắp hành tinh?


Hiện tất cả câu hỏi trên vẫn chưa có lời giải đáp, các nhà nghiên cứu vẫn đang nổ lực tìm ra câu trả lời cho bí ẩn này.

Chủ Nhật, 20 tháng 11, 2016

Bí ẩn các hố xoắn ốc cổ ở Peru đã được giải mã?


Những hố xoắn ốc kỳ lạ rải rác khắp các thung lũng khô cằn ở miền nam Peru từng khiến nhiều nhà khảo cổ bối rối, nhưng nay các nhà nghiên cứu tuyên bố rằng họ đã giải đáp được bí ẩn về công trình cổ đại này.


Ở miền Nam Peru có những công trình xoắn ốc cổ đại rất kỳ lạ đã khiến nhiều nhà khảo cổ đau đầu.


Sa mạc Nazca ở miền Nam Peru là nơi có nhiều hố xoắn ốc được đào sâu xuống dưới mặt đất, gọi là puquios. Những cấu trúc đặc biệt này không thể dùng phương pháp phân tích đồng vị các-bon để xác định niên đại. Người Nazca cũng không để lại bất kỳ bằng chứng nào về thời điểm và mục đích xây dựng chúng.


Nền văn minh Nazca, phát triển khoảng năm 100 trước Công nguyên đến năm 800, là những người đã tạo nên những hình vẽ khổng lồ trên mặt đất cũng được biết đến với cái tên Nazca Lines (đường Nazca).



Rosa Lasaponara thuộc Viện Phương pháp Phân tích Môi trường, Italy, cho biết các hố xoắn ốc đã giúp người Nazca sinh sống tại khu vực nổi tiếng bị hạn hán hoành hành.


Bà nói với BBC Future rằng, “rõ ràng là hệ thống puquio phát triển hơn những gì còn lại ngày nay. Nó khai thác nguồn nước vô tận trong suốt cả năm, góp phần thúc đẩy nền nông nghiệp thâm canh tại một trong những nơi khô cằn nhất thế giới“.


Từ lâu các nhà khảo cổ đã nghi ngờ puquio là 1 phần của một hệ thống dẫn nước, nhưng không biết chúng hoạt động như thế nào.


Tiến sĩ Lasaponara cùng nhóm các nhà nghiên cứu đã sử dụng ảnh vệ tinh để vẽ sơ đồ phân bố puquios, đồng thời tìm hiểu mối liên hệ của chúng tới khu dân cư gần đó. Họ cũng kiểm tra độ ẩm đất hiện tại và sự thay đổi thảm thực vật trong khu vực. Kết quả cho thấy, các hố xoắn ốc nằm trong một mạng lưới đường hầm thủy lợi trên sa mạc Nazca, giúp người dân lấy nước ngầm.



Các nhà khoa học cho rằng, những hố xoắn ốc hoạt động bằng cách vận chuyển gió vào những kênh dẫn ngầm, tạo áp lực đẩy nước từ các bể chứa nước sâu dưới mặt đất đến nơi cần sử dụng. Việc xây dựng một công trình trên quy mô rộng lớn như hệ thống puquios đòi hỏi có sự hiểu biết toàn diện về địa chất khu vực, cũng như quá trình biến đổi của nguồn cung cấp nước hàng năm.


“Mặc dù môi trường khô cằn và khắc nghiệt nhưng khu vực này từng xuất hiện các nền văn minh quan trọng, như Paracas và Nazca“, bà Lasaponara cho hay. “Để có thể sản xuất nông nghiệp, Nazca đã phát triển các chiến lược thích hợp đối phó với các yếu tố môi trường cực đoan và sự khan hiếm nước, xây dựng hệ thống dẫn nước rất hiệu quả“.


“Hệ thống puquios là dự án thủy lợi tham vọng nhất trong khu vực Nasca, cho phép nguồn nước luôn sẵn có quanh năm để sử dụng, không chỉ đối với nông nghiệp mà còn phục vụ nhu cầu sinh hoạt gia đình“, theo Lasaponara.


Có một số bằng chứng cho thấy ngày nay các puquios vẫn còn hoạt động nhưng ở mức thấp.

Thứ Năm, 17 tháng 11, 2016

Thành phố Atlantis truyền thuyết không bị chìm xuống đáy biển?


Atlantis là chủ đề bàn luận trong hơn 2.500 năm qua của các nhà triết học, sử học và khảo cổ học. Rất nhiều cuộc thám hiểm đáy biển đã diễn ra để truy tìm thành phố truyền thuyết này, nhưng có thể họ đã tìm sai hướng khi một nghiên cứu mới đây cho rằng Atlantis không chìm mà chỉ bị sóng thần đẩy ra khơi xa.

Nhà hiền triết Plato nói thành phố Atlantis là vương quốc phát triển hùng mạnh và tiến bộ đã bị chìm trong 1 ngày 1 đêm vào năm 9600 TCN và không bao giờ nổi lên nữa.

Thành phố Atlantis là một trong những truyền thuyết cổ xưa nhất trên Trái Đất, lần đầu tiên được nhà hiền triết Plato kể vào năm 360 trước Công nguyên, mô tả một vùng đất thịnh vượng đã biến mất không một dấu vết và chìm xuống biển.

Michael Hubner cho rằng, Atlantis không phải chỉ có trong truyền thuyết, mà là thành phố cổ đại đã tồn tại và nó không chìm mà chỉ bị sóng thần đẩy ra khơi xa, gần bờ biển Marrakesh.

Nhà lập trình máy tính người Đức này đã đưa ra giả thuyết của mình dựa vào thuật toán. Anh đã tính toán dựa vào tập hợp dữ liệu và thông tin trong các bản viết tay của nhà hiền triết Plato và xem xét kỹ lưỡng từ dấu hiệu nhỏ nhất để định vị trí của thành phố Atlantis.

Anh đã dùng những từ ngữ đáng lưu ý trong bản viết của nhà hiền triết Pluto để nhận diện 51 chi tiết và sử dụng để tính toán tọa độ tuyệt đối thành phố Atlantis. Cụ thể những từ ngữ đáng lưu ý gồm: Atlantis nằm gần biển và có kết cấu gồm mấy vòng nhẫn bao quanh.

Vị trí thành phố Atlantis do anh Hubner tính toán định vị ra.

Hubner thấy ở Morocco có những đặc điểm y như mô tả. Di chỉ nằm ở lòng chảo sa mạc cách biển 11,27km có những chi tiết giống hệt mô tả của nhà hiền triết Pluto. Ở giữa có ụ đất nhỏ giống với phần nổi lên giữa thành phố Atlantis, xung quanh đó là mấy vòng đáy sông càng giống thành phố truyền thuyết này.

Trong cuốn sách của mình, nhà nghiên cứu Mark Adam công nhận giả thuyết của Hubner, cho rằng “nó có sức thuyết phục nhất”. Và một nghiên cứu mới đây cũng chứng minh Atlantis từng gặp cơn sóng thần lớn.

Nhiều người tin rằng thành phố Atlantis ban đầu nằm trên đảo Santorini của Hy Lạp, từng xảy ra đợt phun trào núi lửa kinh hoàng vào năm 1500 TCN gây ra sóng thần quét sạch văn hóa Minoan. Các nhà khoa hoc cũng tìm thấy bằng chứng về các đợt sóng cao hơn 9m trên hòn đảo lân cận Crete của Hy Lạp.

Các nghiên cứu trước đây cho rằng, miệng núi lửa đã sụp xuống biển và gây ra sóng thần. Nhưng các nhà nghiên cứu từ Đại học Athena mới đây đã đưa ra một lý thuyết khác.

Họ đã phân tích đáy biển dưới miệng núi lửa, và tìm thấy bằng chứng cho thấy miệng núi lửa đã không nối với biển khi nó sụp đổ, thay vào đó nó bị ngập lụt sau vụ phun trào nhưng lũ không thể gây ra sóng thần.

Các nhà nghiên cứu tin rằng một lượng lớn dung nham từ núi lửa đã chảy nhanh xuống biển, đủ để tạo ra sóng thần.

Sơ đồ cho thấy sự phát triển của miêng núi lửa Santorini trước, trong và sau các đợt phun trào cuối thời đại đồ đồng.

Nhóm nghiên cứu, dẫn đầu bởi Paraskevi Nomikou, đã viết trên tạp chí Nature rằng: “Những cơn sóng thần quy mô khu vực liên quan đến phun trào núi lửa đã được tạo ra bởi sự ngập dòng chảy nham thạch, thêm nữa có lẽ là do việc sạt lở nhanh chóng lớp dung nham tích tụ xuống các sườn núi hướng ra biển“.

Ngoài ra, các nhà khoa học còn phát hiện lớp dung nham tích tụ dày đến 60 mét ngoài khơi Santorini, góp phần củng cố thêm giả thuyết này.