Tổng số lượt xem trang

Thứ Năm, 30 tháng 3, 2017

5 kỳ án bí ẩn nhất lịch sử loài người

Một số kỳ án bí ẩn nhất lịch sử cho đến nay giới chức trách vẫn chưa tìm ra hung thủ.


Kẻ sát nhân đồ tể

Những kỳ án bí ẩn nhất lịch sử đã khiến giới chức trách đau đầu trong suốt hàng chục cho đến hàng trăm năm qua khi chưa thể đóng hồ sơ vụ án. Trong đó, danh tính Jack the Ripper (Kẻ sát nhân đồ tể) là một bí ẩn lớn nhất lịch sử. Gã sát nhân khét tiếng này đã gây ra hàng loạt vụ án rùng rợn ở khu vực East End, London, Anh năm 1888. 11 nạn nhân chủ yếu là phụ nữ bị sát nhân bí ẩn Jack the Ripper giết hại một cách tàn khốc và có phần bệnh hoạn.


Kẻ sát nhân đồ tể đã sát hại những gái mại dâm vào ban đêm. Y đã cắt cổ họng của nạn nhân và thỉnh thoảng cắt bỏ nội tạng của nạn nhân với thủ pháp hoàn hảo khiến một số người suy đoán hung thủ được đào tạo ngành y. Thậm chí, gã sát nhân còn gửi thư thách thức cảnh sát. Trong suốt nhiều năm qua, giới chức trách Anh vẫn chưa tìm ra danh tính gã sát nhân bệnh hoạn trong kỳ án bí ẩn này.



Kẻ sát nhân Zodiac

Sát nhân hàng loạt tự xưng Zodiac (Hoàng đạo) đã reo rắc nỗi sợ hãi đối với người dân ở miền Bắc California, Mỹ. Vào cuối những năm 1960, gã sát nhân bí ẩn này đã sát hại dã man 37 người. Không chỉ giết hại nạn nhân mà gã sát nhân Zodiac còn thách thức cảnh sát khi sau mỗi lần gây án đều gửi những lá thư được mã hóa cho cảnh sát và báo chí địa phương thuật lại quá trình hắn gây án cũng như cung cấp đầu mối cho những vụ án tiếp theo.


Mặc dù một số nhân chứng đã nhận diện được hung thủ là một người đàn ông da trắng tầm 25-30 tuổi, dáng người cao lớn với mái tóc húi cua nhưng cảnh sát không thể bắt được sát nhân hàng loạt Zodiac. Tên sát nhân này đã đi vào lịch sử Mỹ là tên giết người khét tiếng nhất ở Mỹ chưa bị bắt.

Kỳ án thược dược đen


Kỳ án “thược dược đen” nói về sự kiện Elizabeth Short được phát hiện đã chết với cơ thể bị cắt làm đôi tại quận Leimert Park, thuộc thành phố Los Angeles ngày 15/1/1947. Sở dĩ vụ án này được gọi tên là thược dược đen (Black Dahlia) bởi vì hai chữ cái BD được khắc đầy trên hai đùi cô.


Gã sát nhân bí ẩn đã vứt thi thể nạn nhân ở một bãi đất trống, bị cắt làm đôi từ phần thắt lưng. Khuôn mặt Short bị rạch ngoác từ góc miệng đến mang tai vô cùng rùng rợn. Cảnh sát xác định nạn nhân bị giết hại ở một nơi khác rồi đem vứt xác ở đây. Cảnh sát đã có danh sách những kẻ tình nghi nhưng đều không thể chứng minh ai mới là hung thủ sát hại Elizabeth Short. Chính vì vậy, cho đến nay, đây vẫn là một trong những vụ giết người bí ẩn nhất Los Angeles.

Vụ án đèo Dyatlov


Vụ án đèo Dyatlov là một trong những kỳ án bí ẩn nhất lịch sử. Theo đó, năm 1959, 9 sinh viên trẻ đi trượt tuyết trong kỳ nghỉ ở dãy núi Ural, Nga nhưng không bao giờ quay trở về nhà. Sau cùng, người ta phát hiện 5 thi thể đông cứng ở căn lều rách nát và 4 thi thể khác ở khoảng cách khá xa. Thi thể nạn nhân mang nhiều thương tích bí ẩn như người bị vỡ đầu, người bị mất lưỡi, người bị vùi lấp trong tuyết trắng.


Cơ quan chức năng suy đoán dường như nhóm 9 sinh viên trên đã rời lều lúc nửa đêm và cho rằng “một thế lực bí hiểm” đã gây ra cái chết của các nạn nhân.

Kẻ sát nhân hàng loạt Axeman

Sát nhân hàng loạt mang biệt danh Axeman gây ra hàng loạt vụ án rùng rợn ở New Orleans. Theo đó, từ tháng 5/1918 – 10/1919, gã sát nhân bí ẩn này được cho là đã sát hại ít nhất 15 người ở ngay nạn nhân của họ. Đa phần nạn nhân là người Mỹ gốc Italy. Gã sát nhân này dùng rìu chặt đầu đa số nạn nhân nên hắn có biệt danh là Axeman.


Gã sát nhân Axeman còn gửi thư cho cảnh sát nói rằng hắn là ác quỷ đến từ địa ngục. Mặc dù gã sát nhân thường để lại hung khí gây án là chiếc rìu đẫm máu của nạn nhân tại hiện trường nhưng danh tính của hung thủ vẫn nằm trong màn đen bí ẩn suốt gần 100 năm qua.

Thứ Hai, 27 tháng 3, 2017

Bí ẩn về làn sương giết chết 1.700 người chỉ trong 1 đêm ở Cameroon

Năm 1986, một trận sương mù bí ẩn bất ngờ bao phủ một khu vực dân cư gần hồ Nyos ở Cameroon đã cướp đi mạng sống của gần 2.000 người chỉ trong một đêm. Câu chuyện vẫn làm đau đầu các nhà khoa học đến tận bây giờ.

Hồ Nyos ở Cameroon

Bữa tối kinh hoàng

Đêm 21/8/1986, một đám sương mù khổng lồ xuất hiện phía trên hồ Nyos ở vùng núi hẻo lánh nằm tận tây bắc đất nước Cameroon. Đám sương trắng tràn vào thung lũng và các làng mạc quanh đó, giết chết tất cả các sinh vật trên đường đi của nó. Kết quả là 1.700 người được tìm thấy đã chết một cách bí ẩn vào buổi sáng hôm sau.

“Trên thi thể họ không có một dấu hiệu nào chứng tỏ đã bị chấn thương hay có một cuộc đụng độ nào đó dẫn tới tử vong” – Cha Anthony Bangsi, một nhà truyền giáo tại làng Subum nhớ lại sự kiện khủng khiếp trên.

Nhiều thi thể người dân đã bị đốt cháy và một số người sống sót đã mô tả lại rằng họ đã ngửi thấy mùi khí lưu huỳnh trong đêm đó. Cha Anthony là một trong số những nhân chứng may mắn sống sót sau thảm họa đã xóa sổ gần như toàn bộ ngôi làng. Nhưng cha Anthony cũng như bất kỳ người dân địa phương may mắn thoát chết đều không thể giải thích được chuyện gì đã xảy ra. Trong ngày hôm đó, tin tức về quy mô của thảm kịch đáng kinh ngạc trên đã lan ra ngoài biên giới Cameroon khiến nhiều người không khỏi bàng hoàng và hồ nghi.

Nhưng đây không phải là lần đầu tiên câu chuyện lạ lùng này diễn ra. Năm 1984, đã có 37 người dân sống ở vùng hồ Monoun, cách hồ Nyos 59 dặm về phía Đông Nam, cũng qua đời một cách bí ẩn. Giống như trong thảm họa ở hồ Nyos, các nạn nhân đều chết đột ngột trong đêm mà không có bất kỳ một dấu hiệu nào cho thấy có một cuộc va chạm trước lúc họ qua đời.

Những giả thuyết ban đầu

Chuyên gia người Mỹ có tên George Kling là một trong những nhà khoa học đầu tiên xuất hiện tại hiện trường thảm họa Nyos sau sự kiện. Ông tin rằng đã có một vụ phun trào núi lửa dưới lòng hồ và cho rằng đó có thể chính là nguyên nhân dẫn tới những cái chết bí ẩn.

Không những người, cả gia súc cũng chết như rạ bởi làn sương độc

Tuy nhiên, Kling lại không thể tìm thấy dấu vết của một dòng dung nham nóng, đài phun lửa hay bất kỳ thứ gì chứng tỏ rằng đã từng có khí núi lửa được bơm vào không khí trong đêm đó bởi khí lưu huỳnh thường đi kèm với những đợt phun trào dung nham. Hơn nữa, nhiệt độ của hồ cho thấy chúng thực sự mát lạnh hơn cả bình thường chứ không phải đã được làm nóng sau một vụ phun trào.

Từ đó, Kling cảm thấy nghi ngờ giả thuyết ban đầu của mình và nghĩ rằng có lẽ núi lửa không phải là nguyên nhân dẫn tới cái chết của gần 2.000 người dân nơi đây. Ông bắt đầu chuyển hướng điều tra và hướng tới một giả thuyết đã được đưa ra trước đó của nhà nghiên cứu núi lửa người Iceland tên là Haraldur Sigurdsson, người đã từng đến Cameroon điều tra về một thảm kịch tương tự 2 năm trước ở hồ Monou dẫn tới cái chết bí ẩn giống nhau của 37 người dân sống ở đó.

Sigurdsson cũng đã thăm dò để xác nhận có phải hoạt động của núi lửa là nguyên nhân dẫn tới thảm kịch này hay không và các xét nghiệm của ông cũng cho thấy không có bằng chứng nào chứng tỏ rằng chính núi lửa đã phun trào dung nham và khí nóng.

Tuy nhiên, Sigurdsson lại phát hiện thấy trong nước hồ có chứa hàm lượng lớn khí CO2, một loại khí tự nhiên có thể giết chết người qua đường hô hấp. Sigurdsson đã xây dựng lên một giả thuyết được gọi là “Hồ lật đổ” cho rằng chính hồ nước đã giải phóng lượng lớn khí độc mà nó tích tụ được thành đám sương mù giết người. Nhưng trên thực tế chưa từng có trường hợp nào như thế này xảy ra trước đó được ghi nhận và cộng với sự hạn chế của khoa học lúc bấy giờ đã khiến giả thuyết của Sigurdsson trở nên có quá nhiều sơ hở và chưa từng được biết tới từ trước tới thời điểm đó.

Bởi vậy, các nhà khoa học cùng thời với ông đã bỏ qua giả thuyết đó. Khi ông đề nghị kiểm tra nồng độ CO2 của các hồ khác trong vùng cũng đã bị Chính phủ Cameroon từ chối. Và chính sai lầm này đã dẫn tới sự thiệt hại lớn sau này là mạng sống của 2.000 người dân quanh vùng hồ Nyos hai năm sau đó.

Chân dung “sát nhân” giấu mặt

Trở lại Nyos những lần sau đó, George Kling càng tin rằng giả thuyết của Sigurdsson là đúng. Ông đã độc lập tiến hành thử nghiệm nước trong hồ Nyos và nhận thấy có một lượng lớn khí CO2 trong vùng nước sâu của hồ. Ông cho rằng chính khí đốt tự nhiên này đã bốc lên thành một đám mây độc hại và đầu độc 3 ngôi làng ven hồ. Đám mây này có thể trông thấy bằng mắt thường, chúng di chuyển rất êm và không có mùi. Ba yếu tố đó hợp lại khiến nó trở thành một kẻ giết người hoàn hảo. Giả thuyết này cũng khá phù hợp với những vết bỏng được phát hiện trên thi thể các nạn nhân. Nó được gây ra bởi khí CO2 lạnh chứ không phải khí nóng từ núi lửa.

Nyos là 1 hồ lớn trên miệng 1 núi lửa

Kling cũng dẫn chứng những kết quả nghiên cứu của không quân Hoa Kỳ cho thấy việc tiếp xúc với lượng lớn khí CO2 có thể dẫn tới ảo giác khiến họ tưởng tượng rằng chúng có mùi lưu huỳnh. Và chính từ giả thuyết này đã mở đường cho các nhà khoa học hiện đại vạch trần được bộ mặt thật của kẻ giết người bí ẩn.

Hồ Nyos và hồ Monoun đều là những hồ nằm trên miệng núi lửa. Chúng được hình thành trong quá trình nguội đi của núi lửa và do tích tụ nước mưa. Trong hầu hết các loại hồ này, các tầng nước luân chuyển từ trên mặt dưới đáy hồ và ngược lại theo một chu kỳ. Trong quá trình đó, các khí từ lòng đất xâm nhập vào đáy hồ cuối cùng sẽ được giải phóng ra bầu khí quyển. Nhưng hồ Nyos, hồ Monoun và cả hồ Kivu ở Đông Phi lại không giống như vậy. Các lớp nước hồ không có sự luân chuyển trên dưới và vì vậy, khí độc khi xâm nhập ở đáy hồ sẽ bị khóa chặt tại đây.

Khi xuất hiện một cơn bão hay một trận lở đất, địa chấn mạnh sẽ làm một lượng lớn nước trên bề mặt chìm xuống đáy và đồng thời đẩy nước từ dưới đáy lên trên. Khí độc từ trạng thái hòa tan sẽ thoát ra ngoài giống như các bọt khí nổi lên từ một chai nước bị mở nắp.

Theo tính toán của các nhà khoa học, trong sự kiện hồ Nyos năm 1986, khí và nước đã bốc lên thành cột cao khoảng 80m, di chuyển với tốc độ 45dặm/giờ và lan đến những ngôi làng cách đó 12 dặm. Ước tính, hồ đã nhả ra khoảng 1km3 khí CO2 đủ để lấp đầy 10 sân bóng đá. Tại hồ Monoun, đám mây khí này nhỏ hơn nhưng cũng đủ làm 37 người thiệt mạng.

Lượng khí độc trong hồ Nyos và Monoun hiện nay còn lớn hơn cả trước đợt phun trào năm 1986 khiến những người dân sống quanh khu vực này không khỏi lo lắng. Đầu năm 2010, một nhóm các nhà khoa học người Mỹ đã bắt đầu tiến hành tháo ngòi nổ cho hồ Nyos bằng cách đặt một ống polyethylene xuống sâu dưới đáy hồ làm cho nước khí CO2 dưới đó sủi bọt lên và giải phóng bớt khí CO2 vào khí quyển.

Nhờ vậy, áp suất ở đáy hồ sẽ giảm, hạ thấp nguy cơ phun trào. Tiến sĩ James G. Smith, một chuyên gia địa chất học tại Cơ quan Phát triển Quốc tế, nhà tài trợ chính của dự án cho biết: “Đây sẽ là lần đầu tiên chúng tôi có thể ngăn chặn một thảm họa tự nhiên”.

Khung cảnh hồ Nyos ngày nay

Ngoài việc đặt hệ thống đường ống khử khí độc, các nhà khoa học còn lắp một hệ thống cảnh báo sớm trên mỗi hồ. Khi nồng độ CO2 tăng cao, còi báo và ánh sáng nhấp nháy sẽ hoạt động, báo động cho người dân sống trong vùng có thể chạy thoát.

Mặc dù vậy, nguy hiểm chưa hẳn đã hết. Theo các nhà khoa học, hồ Nyos vẫn còn chứa lượng khí CO2 khổng lồ và một đường ống đơn độc không đủ để giải phóng hết chúng. Cần có từ 4-5 đường ống tương tự để loại bỏ mối nguy hiểm ở đây cũng như tại hồ Monoun.

Thứ Hai, 13 tháng 3, 2017

Cụ ông 256 tuổi từng tiết lộ bí quyết trường thọ khiến giới y học “không thể tin nổi”

Con người có thể sống thọ nhất là bao lâu? Hãy cùng tìm hiểu bí quyết sống lâu trăm tuổi của ông Lý Thanh Vân (Li Ching Yuen), người đàn ông Trung Quốc thọ 256 tuổi, quả là một con số đáng kinh ngạc.

Lý Thanh Vân vào năm 250 tuổi. Ông là chuyên gia thảo dược, lão võ sư kiêm cố vấn chiến thuật, đồng thời cũng là một bậc thầy khí công danh tiếng lẫy lừng Trung Quốc thời đó. (Ảnh: Tướng quân Dương Sâm chụp năm 1927)

Theo một bài báo đăng trên New York Times năm 1930, Ngô Tuấn Kiệt (Wu Chun Chieh), một giáo sư trường Đại học Thành Đô, tìm thấy thiệp chúc mừng sinh nhật lần thứ 150 của ông Lý Thanh Vân, tiếp đó là rất nhiều thiệp chúc mừng sinh nhật lần thứ 200 vào năm 1877 cũng của ông Lý trong các tư liệu cung đình. Năm 1928, một phóng viên New York Times cho biết, nhiều người già trong khu phố của ông Lý khẳng định rằng họ biết ông khi họ còn nhỏ, bản thân ông lúc đó đã là một người trưởng thành.

Ông Lý Thanh Vân bắt đầu trồng các loại thảo mộc vào năm 10 tuổi. Các loại cỏ này được sưu tầm từ các dãy núi và được xem như thuốc trường sinh. Trong gần 40 năm, thức ăn của ông chỉ bao gồm các loại thảo mộc như nấm linh chi, câu kỷ tử, nhân sâm Ông không ăn rau má, ngô và uống rượu. Năm 1749, ở tuổi 71, ông gia nhập quân đội Trung Quốc với vai trò một võ sư. Ông Lý là một nhân vật rất được yêu quý trong cộng đồng, ông kết hôn 23 lần và là cha của hơn 200 người con.

Theo những câu chuyện được kể lại từ địa phương của ông, ông Lý đã có thể đọc và viết khi còn là một đứa trẻ. Đến năm 10 tuổi, ông đã đi nhiều nơi như Kansu, Shansi, Tây Tạng, Việt Nam, Thái Lan và Mãn Châu để sưu tầm thảo dược. Ông dành ra khoảng 200 năm cho việc đó. Thời gian sau, ông chuyển sang bán các loại thảo dược được thu hái từ những người khác. Ông bán nấm linh chi, câu kỷ tử, hồng sâm. Ông không dùng ngô, rau má chung với các loại thảo mộc khác của Trung Quốc.

Ông không phải là người duy nhất

Theo lời kể của một trong những đệ tử của ông Lý, ông này từng gặp một người đàn ông thậm chí hơn 500 tuổi, người đã dạy ông các bài tập khí công và chế độ dinh dưỡng giúp kéo dài tuổi thọ. Ngoài khí công và một chế độ ăn uống với thảo mộc, chúng ta có thể học hỏi gì từ các khí công sư trường thọ này?

Luyện khí công có thể giúp kéo dài tuổi thọ. (Ảnh: Internet)

Trong lúc lâm chung, ông Lý thốt lên một câu nói nổi tiếng: “Tôi đã làm tất cả những gì tôi phải làm gì trong thế giới này”. Phải chăng những lời nói bình thản cuối cùng của ông ẩn chứa những bí mật cho một cuộc sống thịnh vượng lâu dài? Thật thú vị khi ở phương Tây, người ta cũng tin rằng lão hóa sẽ được kiểm soát bởi công nghệ hồng ngoại cao cấp và sự phối hợp tinh tế của các loại dược phẩm.

Bí quyết sống khỏe mạnh

Khi được hỏi bí quyết kéo dài tuổi thọ, ông trả lời: “Luôn giữ một trái tim ôn hòa, ngồi tĩnh lặng như một chú rùa chậm chạp, đi nhanh nhẹn như chú chim câu và ngủ ngon lành như chú cún”. Đó là những lời khuyên quý báu mà ông Lý chia sẻ với Ngô Bội Phu (Wu Pei fu), một lãnh chúa đã gặp ông để tìm hiểu bí quyết của sự trường thọ.

Ông Lý cho rằng tĩnh tâm kết hợp với các kỹ thuật thở là những bí quyết để kéo dài tuổi thọ đáng kinh ngạc. Rõ ràng, chế độ ăn uống cũng đóng một vai trò quan trọng. Nhưng điểm chung thú vị là tâm trí của những người này rất bình lặng.

Tĩnh tâm. (Ảnh: Internet)

Tại sao điều này rất khó tin?

Với tuổi thọ trung bình của người phương Tây hiện nay là 70 – 85 năm, ý nghĩ ai đó sống trên 100 tuổi có vẻ khó tin. Việc có người sống trên 200 tuổi lại càng đáng ngờ. Nhưng tại sao chúng ta không tin rằng con người có thể sống lâu như vậy?

Chúng ta nên công nhận rằng có một số người trên thế giới này không sống một cách mệt nhoài như phần lớn còn lại. Họ không phải đối phó với những áp lực nợ nần, họ không hít thở không khí ô nhiễm ở thành phố, và họ tập thể dục thường xuyên. Họ không ăn các loại đường tinh chế hoặc bột, hay bất kỳ loại thực phẩm nào có thuốc trừ sâu. Họ không ăn chế độ theo tiêu chuẩn Mỹ.

Họ không ăn thịt mỡ, món tráng miệng có đường, và các loại thực phẩm biến đổi gen. Không thuốc kháng sinh, không rượu và không thuốc lá. Chế độ ăn của họ không có thức ăn nhanh. Họ ăn siêu thực phẩm và thảo dược có vai trò như “steroid” (một loại thuốc thúc đẩy tăng trưởng cơ bắp và phân chia tế bào) cho các cơ quan nội tạng và hệ thống miễn dịch.

Từ xa xưa người Trung Quốc đã biết sử dụng thực phẩm và các loại thảo mộc trong các chế độ ăn uống để có sức khỏe tốt và trị bệnh. (Ảnh: Internet)

Họ cũng dành nhiều thời gian rảnh thực hành kỹ thuật thở và thiền định đã được chứng minh là cải thiện sức khỏe tinh thần, thể chất và cảm xúc. Họ giữ mọi thứ đơn giản, có giấc ngủ sâu và dành nhiều thời gian tiếp xúc với ánh mặt trời. Khi chúng ta có một cơ hội thư giãn trong ánh mặt trời, chúng ta sẽ cảm thấy ngay lập tức trẻ lại. Hãy tưởng tượng một cuộc sống như vậy ở vùng núi, nơi có một sự kết hợp hoàn hảo giữa thể chất và tinh thần.

Thử tưởng tượng mà xem rằng nếu tất cả chúng ta thực hành những điều đó, tuổi thọ trung bình sẽ là 100 tuổi. Khi chúng ta đối xử với cơ thể chúng ta một cách đúng đắn, ai biết được chúng ta có thể sống được bao lâu?

Thứ Tư, 8 tháng 3, 2017

5 phát minh huyền bí thời cổ đại thách thức khoa học hiện đại

Lịch sử nhân loại cổ đại có rất nhiều điều huyền bí mà khoa học ngày nay chưa thể giải thích, trong đó có những phát minh do người xưa sáng tạo ra, có trình độ kĩ thuật vượt xa khả năng của khoa học hiện đại.

Con dao làm bằng thép Damas

1. Ngọn lửa Hy Lạp

Đế quốc Hy Lạp thế kỷ thứ 7 tới thế kỷ thứ 12 đã bắn một loại hóa chất bí ẩn lên hải quân địch. Loại chất lỏng này thường được bắn ra qua các ống, có thể cháy trong nước và chỉ có thể bị dập tắt bởi giấm, cát, hay… nước tiểu.

Hiện nay chúng ta vẫn không thể biết được vũ khí này được làm như thế nào. Đế quốc này đã giữ kín bí mật, và đảm bảo rằng chỉ có một số ít người được biết. Vì thế mà cuối cùng nó đã thất truyền.


2. Thuốc giải cho mọi loại độc

Một loại thuốc giải độc có tác dụng với mọi loại độc đã được phát triển bởi vua xứ Pontus là Mithridates Đại đế. Nó được phát triển hoàn hảo hơn bởi các thầy thuốc của bạo chúa Nero.

Theo các sử gia, công thức pha chế đã thất truyền. Tuy nhiên một số thành phần của vị thuốc đó là thuốc phiện, rắn, cùng sự phối hợp của một số loại thuốc độc và thuốc giải khác….

3. Tia nhiệt Archimedes

Archimedes, nhà toán học, nhà vật lý, kỹ sư, nhà phát minh, và nhà thiên văn học của Hy Lạp cổ đại. Ông được biết đến như một nhà khoa học lỗi lạc thời bấy giờ.

Tác giả Lucian thế kỷ thứ 2 có viết về cuộc chiến bảo vệ thành phố quê hương của Archimedes khi ông đốt cháy tàu địch. Hàng thế kỷ sau, Anthemius đã mô tả vũ khí của Archimedes là một chiếc gương.

Thiết bị này, đôi khi còn được gọi là Tia nhiệt Archimedes, sử dụng ánh Mặt Trời hội tụ vào tàu địch khiến chúng bốc cháy. Vũ khí này đã trở thành tâm điểm của một cuộc tranh luận về tính xác thực của nó kể từ thời Phục Hưng.

Archimedes dùng gương hội tụ ánh sáng mặt trời thiêu rụi thuyền địch.

Một thí nghiệm đã được tiến hành bởi các nhà khoa học Hy Lạp vào năm 1973. Thí nghiệm được diễn ra tại căn cứ hải quân ngoài bờ Athens. Trong thí nghiệm này, 70 chiếc gương bọc đồng được sử dụng, mỗi chiếc cao 1,5m. Những chiếc gương được hội tụ vào một mô hình thuyền La Mã bằng gỗ ép, cách đó khoảng 49m. Khi các tấm gương được điều chỉnh đúng, mô hình đã cháy thành tro trong vài phút.

Chương trình MythBusters cũng đã ghi hình một thí nghiệm khác tại San Francisco vào năm 2006. Tuy nhiên thí nghiệm này được cho là không đúng. Do thời gian hội tụ và điều kiện thời tiết không đạt.

MythBusters đã tiếp tục thực hiện lại vào năm 2010, nhưng một lần nữa không thể tái tạo ra loại vũ khí đó, cuối cùng nó được xem như một bí ẩn, câu chuyên huyền thoại và dừng thí nghiệm.

4. Bê tông La Mã

Bê tông La Mã


Những kiến trúc La Mã có tuổi thọ hàng nghìn năm là minh chứng cho sự ưu việt của bê tông thời đó so với bây giờ. Bê tông bây giờ bị ăn mòn chỉ sau 50 năm. Một số tòa nhà La Mã được xây dựng cực kỳ ngoạn mục với thiết kế mà không có bất kỳ nhà thầu hiện đại nào sử dụng, kể cả với công nghệ hiện đại.

Người ta đã biết rằng đá núi lửa trong bê tông La Mã và vữa họ sử dụng khiến các kiến trúc có tuổi thọ rất cao. Một nhóm các kỹ sư và nhà nghiên cứu đã tìm ra công thức để làm loại bê tông La Mã bền vững này. Họ chỉ là tìm thấy ghi chép về công thức do các kiến trúc sư La Mã để lại chứ không phải nghiên cứu ra.

5. Thép Damascus

Vào thời Trung cổ, các thanh kiếm rèn từ thép Damascus được sản xuất tại Trung Đông từ một nguyên liệu thô là thép Wootz. Các sản phẩm loại này cực kỳ cứng và phương pháp rèn thép Damascus không còn được truyền lại. Bởi vì vật liệu và phương pháp sản xuất hiện đại đã khác xưa, người ta không thể hoàn toàn chế tạo lại loại thép này.

Thanh gươm làm từ thép Damascus

Thép Damascus đã trở thành truyền thuyết trong lịch sử. Loại thép này có thể cắt ngọt nòng súng hay chẻ đôi cọng tóc nào rơi qua lưỡi thép. Bí mật của thép Damascus chỉ được hé lộ khi người ta quét nó qua kính hiển vi điện tử tại các phòng thí nghiệm hiện đại.

Đáng chú ý là loại thép này được sử dụng vào năm 300 trước công nguyên và bí quyết đã bị thất truyền vào giữa thế kỷ 18. Chuyên gia khảo cổ K. Kris Hirst giải thích rằng công nghệ nano đã được sử dụng trong việc tạo ra thép Damascus. Các nguyên liệu được đưa vào trong quá trình rèn đã gây ra phản ứng hóa học ở mức lượng tử.

Thứ Tư, 1 tháng 3, 2017

Bí ẩn lời nguyền cổ xưa vẫn đang ám ảnh con người hiện đại

Các xác ướp hay ngôi mộ cổ luôn mang theo mình những lời nguyền bí ẩn. Và đôi khi, nếu vi phạm vào những điều bí mật ấy, người ta sẽ phải chịu những hậu quả khủng khiếp…

1. Ai nào dám sờ mó vào lăng mộ của các Pharaon sẽ gặp quả báo thảm hại


Quả thật, lời nguyền cổ xưa vẫn đang ám ảnh con người hiện đại. Nó có thể được dẫn chứng bằng vụ khai quật nơi an nghỉ của Tutankhamen. Câu chuyện chấn động toàn giới khảo cổ này xảy ra vào năm 1923.

Chủ xị dốc hầu bao cho mọi chi phí, huân tước Carnarvon, đã từ giã cõi đời ngay sau đó chỉ vì một vết… côn trùng cắn. Kỳ quái là vị trí vết thương bé tí tẹo nhưng gây chết người ấy lại trùng với vị trí vết thương trên xác ướp. Ngay cả con chó ông nuôi cũng chết sau khi kêu lên những hồi dài. Chủ và tớ ra đi cùng thời khắc. Không những vậy, tổng cộng 26 nhân mạng bị tước đoạt một cách bí ẩn trong vòng 10 năm kể từ khi người ta nhìn thấy xác ướp của vị hoàng đế lừng danh.

Tuy nhiên, có người cho rằng sự ra đi của họ chỉ là ngẫu nhiên, hoặc dính chất độc, rơi vào những cái bẫy được bố trí dày đặc trong hầm mộ. Ví dụ như người ta đã tìm thấy loại bụi được làm từ kim loại phủ đầy sàn nhà và các vách tường bên trong lăng. Nó tạo thành cái chết chậm rãi và gây đau đớn cho người hít phải.

2. Dính vào người băng Ötzi nghĩa là có duyên với tử thần



Cũng tương tự như các Tutankhamen, ai nào động chạm đến sự yên nghỉ của xác ướp được cho là cổ nhất châu Âu này sẽ phải khổ sở với những điềm gở.

Sau khi xác ướp Otzi được khai quật, nó đã mang lại cái chết cho 7 người có liên quan. Đầu tiên là Rainer Henn, 64 tuổi, nhà nghiên cứu bệnh học pháp y đại học Innsbruck. Ông đã chết trong một tai nạn xe hơi khi đang trên đường đến một cuộc họp về công việc nghiên cứu của mình. Tiếp theo là Kurt Fritz, 52 tuổi, hướng dẫn viên trên núi, người được cho là đã phát hiện ra khuôn mặt Otzi lần đầu tiên, bị chết trong một trận tuyết lở. Sau đó là Rainer Holz, 47 tuổi, người đã làm một phim tài liệu về việc khai quật Ötzi đã qua đời vì một khối u não.

Những nạn nhân tiếp theo lần lượt là Helmut Simon, 69 tuổi, nổi tiếng là cha đẻ của Otzi vì ông là một trong 2 nhà leo núi đã tìm thấy xác ướp. Ông chết do bị ngã thác. Tiếp đến là Dieter Warnecke, 45 tuổi, người đứng đầu đội cứu hộ đã tìm kiếm cơ thể của Simon, cũng qua đời vì đau tim ngay sau khi tang lễ của Simon. Chưa dừng lại ở đó, người tử vong tiếp theo là Konrad Spindler, 66 tuổi, lãnh đạo của một nhóm nhà khoa học đã kiểm tra xác Otzi tại Innsbruck, Áo. Cuối cùng là ông Tom Loy, 63 tuổi, nhà khảo cổ học phân tử, người đã có nhứng khám phá đáng chú ý về quần áo và vũ khí của Ötzi, chết vì một căn bệnh máu di truyền. Lần lượt những người liên quan tới Otzi đều ra đi nhanh chóng không một lời giải đáp.

3. Viên kim cương Hy Vọng và lời nguyền


Truyền thuyết kể rằng một lời nguyền đáng sợ đã giáng vào viên kim cương Hy Vọng, nó sẽ gây tai họa khi bị lấy ra khỏi bức tượng thần. Lời nguyền gieo rắc bi kịch và cái chết thảm khốc không chỉ đối với những người sở hữu mà cả với những ai chỉ cần chạm vào nó một lần mà thôi.

Jean Baptiste Tavernier, người tự tay đoạt nó từ bức tượng đã bị xé xác bởi lũ chó. Kế tiếp, vua Louis 16, hoàng hậu Marie Antoinette cả hai đều mất đầu dưới máy chém của quân cách mạng 1789.

Vào năm 1800, nó rơi vào tay hoàng hậu Tây Ban Nha và bà giao nó cho Wilhelm Fals để gia công. Kết cục: Nó bị mất cắp và ông u uất mà qua đời; chính đứa con trai của ông là thủ phạm, anh đã tự sát ngay sau khi bố mất ít lâu.

Nạn nhân được nhiều người biết đến nhất là Evalyn Walsh McLean: Con trai chết vì tai nạn, con gái tự tử, li dị chồng và bà kết thúc chuỗi ngày đau khổ trong nhà thương điên. Giờ viên kim cương xanh đẹp đẽ kia đã yên vị trong viện bảo tàng Smithsonian tại Washington.

4. Lời nguyền trên hòn đá thiêng Björketorp


Những hòn đá này nằm ở Blekinge, Thụy Điển. Chúng có thể “túm tụm” thành vòng tròn, hoặc nằm rải rác. Người dân nơi đây tin rằng, những kí tự trên hòn đá có ý nghĩa cảnh báo ai dám phá vỡ nó sẽ nhận lấy hậu quả nặng nề.

Một câu chuyện được kể lại đã từng có người muốn phá vỡ nó, vì anh ta chẳng thể nào đẩy nó đi chỗ khác, nên lấy củi chất quay quanh, lửa được nổi lên. Nhưng thật kỳ lạ, trời đương lặng gió, bỗng nhiên lại thổi đùng đùng, ngọn lửa quay về phía của anh này khiến anh bốc cháy.

Thứ Sáu, 24 tháng 2, 2017

10 quái vật biển nổi tiếng nhất mọi thời đại

Nhiều năm đã trôi qua, khoa học kỹ thuật đã tiến bộ hơn rất nhiều nhưng đến nay một loạt xác động vật khổng lồ, kỳ lạ dạt vào bờ biển vẫn còn là bí ẩn.


1. Quái vật biển Tasmania được phát hiện hồi tháng 8/1960


Thủy quái Tasmania trở thành đề tài bàn tán của dư luận ngay sau khi được phát hiện

Còn gọi là “Tasmania Blob”, thủy quái này dạt vào bờ biển Tasmania năm 1960. Khi được phát hiện, sinh vật bí ẩn đã chết. Nó khuyết mắt nhưng có miệng, trên mình bao phủ lớp lông cứng màu trắng và đặc biệt to lớn với độ dài 6m. Giới truyền thông vớ được tin sốt dẻo, thả sức thêu dệt nên những câu chuyện ly kỳ về quái vật biển Tasmania.

Khi đó, giới khoa học cũng không thể xác định được cấu trúc xương của con vật nên họ cho rằng, đây có thể là một loài động vật có vú mới. Bức màn bí ẩn bao phủ thủy quái Tasmania 21 năm sau, tức là năm 1981 mới được giải đáp.

Với sự hỗ trợ của khoa học kỹ tiên tiến, các nhà khoa học phân tích cấu trúc xương của thủy quái và kết luận, đây là một chú cá voi?

9. Thủy quái Bermuda được phát hiện vào tháng 5/1988

Thủy quái nổi tiếng Bermuda hóa ra là xác một chú cá heo bị bệnh

Vào đầu năm 1988, một ngư dân tên là Ted Tucker tình cờ bắt gặp xác một sinh vật bí ẩn trên bờ biển Bermuda. Sinh vật này được miêu tả là trắng toát với 5 chi. Cũng như nhiều thủy quái nổi tiếng khác, Bermuda không có mắt, miệng hay bất cứ đặc điểm cụ thể nào để nhận dạng.

Do đó, thủy quái Bermuda là một ẩn số cho tới 7 năm sau đó. Nhờ sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, thủy quái Bermuda chính thức được xác nhận là xác một chú cá heo bị bệnh.

8. Thủy quái Gambo được phát hiện vào tháng 6/1983

Thủy quái Gambo vẫn là bí ẩn đối với các nhà sinh vật học

Thủy quái được phát hiện bởi cậu bé Owen Burnham, 15 tuổi trên bờ biển Bungalow tại Gambia. Sự kiện này làm xôn xao dư luận khi chưa một ai từng trông thấy một sinh vật nào tương tự Gambo. Tên của thủy quái được đặt theo tên của nơi nó được phát hiện.

Cho đến nay, bí ẩn xung quanh thủy quái Gambo vẫn chưa có lời giải. Lý do là, ngay sau khi bị phát hiện, quái vật biển được chuyển tới một ngôi làng gần đó và bị xẻ thịt. Thậm chí, dân làng còn cắt đầu con thủy quái và bán cho một khách du lịch. Không có bất cứ tấm ảnh nào ngoài bản phác thảo vội của cậu bé Owen về Gambo. Do đó, cho đến nay, các nhà khoa học vẫn không biết chắc về lai lịch của con thủy quái này.

7. Thủy quái Augustine được phát hiện vào tháng 11/1896


Là một trong những thủy quái nổi tiếng và được phát hiện sớm nhất, sinh vật biển Augustine do một nhóm trẻ con phát hiện

Thủy quái Augustine làm xôn xao dư luận khi ban đầu người ta cho rằng, nó là một loài mực ống khổng lồ mới bởi có nước da màu hồng xỉn, đặc trưng của loài này. Giả thuyết này tồn tại tới tận 29 năm sau đó.

Tuy nhiên, vào năm 1925, khi loài mực ống khổng lồ thực sự được phát hiện và được công nhận là một loài mới, người ta mới ngộ ra, thủy quái Augustine là một loài khác.

Sở dĩ có sự nhầm lẫn này là vì thủy quái Augustine không chỉ có màu da giống loài mực ống mà còn có các xúc tu. Tổng cộng, Augustine có tới 7 xúc tu dài loằng ngoằng nhưng cân xứng với cơ thể khổng lồ của nó. Tuy nhiên, một vài xúc tu bị đứt và trôi dạt, nằm rải rác trên bờ biển. Trong khi đó, đầu của thủy quái trông giống một con sư tử biển.

Ngày nay, với các tiến bộ khoa học, người ta xác nhận được thủy quái Augustine là xác của một con cá voi bị bệnh.

6. Quái vật Montauk được phát hiện vào tháng 7/2008


Xác thủy quái Montauk trên bãi biển New York

Thủy quái Montauk được phát hiện tại một bãi biển ở bang New York. Sinh vật này có đầu giống đầu chim nhưng hàm dưới lại có răng. Trong khi đó, thân của Montauk giống loài chó nhưng lại hoàn toàn không có lấy một sợi lông nào.

Từ khi được phát hiện cho đến nay, các nhà khoa học vẫn chưa giải được bí ẩn về nguồn gốc của Montauk. Một số người cho rằng, Montauk là một con gấu trúc bị mắc bệnh. Điều này giải thích cho việc nó bị rụng lông và mất toàn bộ hàm trên. Tuy nhiên, giả thiết này bị nhiều người phản đối vì cho rằng, chân gấu trúc ngắn hơn rất nhiều so với chân của quái vật Montauk.

5. Thủy quái ở Newfoundland được phát hiện vào tháng 8/2001

Thủy quái được phát hiện trên bãi biển Newfoundland

Cũng làm xôn xao dư luận khi được phát hiện, nhưng lai lịch thủy quái ở Newfoundland lại nhanh chóng được xác định nhờ các tiến bộ khoa học kỹ thuật. Thủy quái được xác định là một con cá nhà táng khổng lồ, thuộc loài cá voi to lớn nhất thế giới.

Ngoài ra, các nhà khoa học cũng lý giải về việc làm thế nào mà cái xác to lớn, nặng nề của con cá nhà táng khổng lồ lại có thể trôi dạt được vào bờ. Họ nói rằng, sau khi cá chết nhiều năm, quá trình thối rửa làm cho phần xương cứng bên trong cơ thể cá nhà táng phân hủy và thấm qua lớp mỡ chảy hết ra ngoài. Các cơ quan nội tạng bên trong cũng bị phân hủy hoàn toàn, để lại các xác rỗng toàn mỡ. Điều này khiến các xác cá có khả năng nổi trên mặt biển và cuối cùng bị sóng đánh trôi dạt vào một bãi biển ở Newfoundland.

4. Thủy quái ở Chile được phát hiện vào tháng 7/2003

Cho đến nay, lai lịch của thủy quái ở Chile vẫn là một bí ẩn đối với các nhà sinh vật học

Thủy quái ở Chile có chiều dài tới 12m, nặng 13 tấn. Ban đầu, nhiều nhà sinh vật học xác định đây là một loài bạch tuộc khổng lồ chưa từng được biết đến từ trước tới nay. Điều này khiến dư luận cả thế giới xôn xao.

Tuy nhiên, sau đó thủy quái được xác định lại là một con cá voi. Tuy nhiên, một số nhà sinh vật học khác vẫn chưa hoàn toàn bị thuyết phục với kết luận trên bởi lúc đầu, thủy quái được suy đoán là loài không xương sống.

3. Thủy quái Zuiyo-maru được phát hiện vào tháng 4/1977

Xác con thủy quái khổng lồ bị vứt trả lại biển

Trong một chuyến đi biển, một đoàn ngư dân Nhật Bản phát hiện ra xác của một sinh vật biển khổng lồ sau khi nó mắc vào lưới vét cá của họ. Sinh vật lạ được đặt tên là Zuiyo-maru, theo tên của chiếc tàu đánh cá. Các thủy thủ cho rằng, Zuiyo-maru là một con thằn lằn cổ dài tiền sử được gọi là “Nessie”.

Mặc dù rất phấn khích nhưng các ngư dân đành vứt trả lại cho biển xác con thủy quái bởi lo sợ việc giữ lại Zuiyo-maru sẽ khiến số cá họ bắt được trên thuyền thối rữa. Trước khi vứt xác con vật, họ khôn ngoan chụp ảnh nó đồng thời giữ lại các mẫu xương, thịt, da và mỡ của con vật.

Từ những hình ảnh ghi lại cho thấy, “quái vật” có 4 chiếc vây lớn nằm ở bên thân, chiếc cổ dài, không có vây lưng như cá (có thể bị mất) và miệng như khủng long. Còn theo đo đạc, nó dài khoảng 13m, đuôi dài 2m, nặng khoảng 1,8 tấn…

Tuy nhiên, tất cả những điều đó cũng không thể giúp các nhà sinh vật học xác định chính xác lai lịch của Zuiyo-maru. Một số giả thiết cho rằng, đây là xác của một con cá mập khổng lồ .

2. Thủy quái Trunko được phát hiện vào tháng 10/1924

Một người đàn ông đang dùng cành cây chọc vào xác thủy quái Trunko trên bãi biển Nam Phi.

Trunko là thủy quái duy nhất còn sống khi được phát hiện. Theo lời các nhân chứng, vài ngày trước khi bị dạt vào một bờ biển Nam Phi, thủy quái Trunko đang vật lộn tìm cách thoát thân khỏi 2 con cá hổ kình khổng lồ (cá voi sát thủ). Nó phải dùng đuôi chống lại kẻ thù trong suốt 3 giờ.

Ngoài ra, các nhân chứng cũng cho hay, diện mạo của Trunko rất kỳ lạ. Nó có bộ lông màu trắng như tuyết bao phủ phần thân trên (một số người vì điều này cho rằng nó là một con gấu Bắc cực). Ngoài ra, con thủy quái có đuôi giống loài giáp xác nhưng bị mất đầu, không có cấu trúc xương và thậm chí không có máu.

Với điều kiện khoa học kỹ thuật thời đó, rất khó để xác định lai lịch của Trunko. Hiện nay, chỉ còn lại 4 bức ảnh chụp thủy quái này và do đó, nó vẫn là bí ẩn với các nhà sinh vật học.

1. Thủy quái Stronsay được phát hiện vào tháng 9/1808

Stronsay có nhiều điểm tương đồng với quái vật hồ Loch Ness với đuôi và cổ rất mảnh và dài, phần thân rộng với 3 cặp chân ngắn.

Năm 1808, sau khi cơn bão đổ bộ lên đảo Stronsay thuộc quần đảo Orkney tan, một sinh vật khổng lồ dài ngoằn ngoèo dạt vào bờ.

Hơn 200 năm kể từ khi được phát hiện, lai lịch của sinh vật này vẫn là bí ẩn đối với các nhà khoa học.

Về diện mạo, Stronsay có nhiều điểm tương đồng với quái vật hồ Loch Ness với đuôi và cổ rất mảnh và dài, phần thân rộng với 3 cặp chân ngắn. Con quái vật có bờm bao gồm những chiếc lông cứng và nhọn phủ từ cổ cho tới phần lưng dưới.

Stronsay có chiều dài gần 17m dù khi được phát hiện, một phần đuôi của nó đã bị phân hủy. Khi ấy, với chiều dài như vậy, nhiều người cho rằng, Stronsay là xác của loài con cá mập khổng lồ. Trước đó, con cá mập dài nhất từng được biết đến chỉ dài 12m. Trong suốt một khoảng thời gian dài, các chuyên gia xã hội lịch sử tự nhiên ở thành phố Edinburgh, Vương quốc Anh tìm mọi cách để xác định lai lịch của Stronsay nhưng bất thành.

Thứ Tư, 22 tháng 2, 2017

5 nền văn minh tiến bộ đã sụp đổ cả ngàn năm đến nay vẫn là ẩn số

Trong lịch sử thế giới có nhiều nên văn minh đã sụp đổ, nhưng có một số đến nay vẫn là ẩn số bất chấp nỗ lực của các nhà khảo cổ và sử gia, chúng dường như biến mất mà không để lại bất kỳ manh mối nào cho hậu thế.

Nhiều nên văn minh đã sụp đổ từ hàng ngàn năm trước đến nay vẫn là ẩn số.

1. Maya

Được cho là nền văn minh tiến bộ nhất Tân thế giới thời kỳ Tiền Colombo, người Maya xây những thành phố bằng đá trong các khu rừng ở miền Nam Mexico và Trung Mỹ. Đó là những phức hợp hoàn chỉnh với quảng trường, cung điện, kim tự tháp và sân bóng.

Người Maya cũng nổi tiếng với hệ chữ tượng hình riêng biệt, toán học, thiên văn học, tính toán lịch và kỹ thuật kiến trúc. Nền văn minh Maya phát triển đến đỉnh cao vào giai đoạn năm 250 – 990 sau Công nguyên.

Sự chấm dứt của nền văn minh này là một trong những bí ẩn lớn nhất lịch sử. Các thành phố bỗng chốc bị bỏ hoang và xóa sổ cùng với các kỹ thuật tiến bộ. Hàng chục giả thuyết xuất hiện để giải thích điều gì đã xảy ra.

Một giả thuyết cho rằng sự sụp đổ của xã hội Maya là do cuộc nổi dậy của nông dân.

Một số nhà sử học cho rằng đã xảy ra hạn hán lớn, khởi đầu cho sự sụp đổ của xã hội Maya. Một số khác lại đổ lỗi cho dịch bệnh hoặc một cuộc nổi dậy của nông dân, chiến tranh liên miên giữa các thành bang, hay con đường giao thương giữa các thành phố bị cắt đứt…

Một vài giả thuyết kết hợp nhiều nguyên nhân. Mặc dù bị phân tán, người Maya không bao giờ biến mất. Ngày nay, hàng triệu hậu duệ của người Maya vẫn sống trong khu vực của tổ tiên họ xưa kia.

2. Văn minh lưu vực sông Ấn


Cư dân nền văn minh sông Ấn bắt đầu xây dựng các khu định tư tại khu vực ngày nay là Ấn Độ và Pakistan từ 8000 năm trước, biến họ trở thành một trong những nền văn minh sớm nhất của nhân loại.

Đến thế kỷ 3 TCN, họ sinh sống trên diện tích gần 1 triệu km2 – nhiều hơn nhiều những người đương thời nổi tiếng ở Ai Cập và Lưỡng Hà – và chiếm khoảng 10% dân số thế giới.

Quá trình phát triển của nền văn minh này chưa được giải mã. Các thành phố của dân cư sông Ấn có hệ thống vệ sinh có một không hai cho đến tận thời La Mã. Tuy nhiên, vào khoảng 1900 TCN, Văn minh sông Ấn hay còn gọi là Văn hóa Harappa đã sụp đổ nhanh chóng.

Người dân rời bỏ các thành phố và di cư đến khu vực Đông Nam. Ban đầu, các học giả tin rằng một cuộc xâm lược của người Aryan từ phương Bắc đã đẩy Văn minh sông Ấn đến cái kết. Tuy nhiên, giả thuyết này không còn phổ biến ngày nay.

Nghiên cứu gần đây cho thấy, chu kỳ gió mùa vốn ổn định đã dừng lại trong 2 thế kỷ, khiến người dân không thể hoạt động nông nghiệp. Các yếu tố khác, như động đất hay sự bùng phát dịch sốt rét, dịch tả, cũng được cho là có ảnh hưởng.

3. Anasazi

Tại vùng Four Corner khô cằn của Tây Nam nước Mỹ ngày nay, vẫn còn dấu tích của những ngôi nhà Anasazi được xây trong vách đá từ thế kỷ 12 và 13, một số cái có hàng trăm căn phòng.

Dấu tích của những ngôi nhà Anasazi được xây trong vách đá.

Không công trình nào ở Mỹ cao hơn những ngôi nhà này cho đến khi tòa nhà chọc trời đầu tiên được xây vào thập niên 1880. Tuy nhiên, những ngôi nhà vách đá không được ưa chuộng lâu và cái kết của nó cũng không hay ho gì.

Các nhà nghiên cứu phát hiện dấu tích của các vụ thảm sát và ăn thịt người.Đồng thời bằng chứng về tình trạng phá rừng, vấn đề về nước và hạn hán lâu dài, khiến nhiều người tin đó là căn nguyên của hàng loạt vụ bạo lực. Biến động tôn giáo và chính trị có thể đã khiến tình hình thêm hỗn loạn.

Cuối cùng, người Anasazi buộc phải rời quê hương mình, chạy trốn đến phía Nam vào khoảng thế kỷ 13. Hậu duệ hiện đại của họ là tộc Hopi và Zuni. Một số hậu duệ không thích cái tên “Anasazi”, thay vào đó họ gọi là “tổ tiên Puebloans”.

4. Văn minh ở đảo Phục Sinh


Khởi đầu bằng những con thuyền vào khoảng năm 300 – 1200, bằng một cách nào đó người Polynesia đã tìm đến và định cư tại đảo Phục Sinh – một trong nơi xa xôi nhất thế giới, cách bờ biển Chile hơn 3700 km về phía Tây.

Thần kỳ hơn, dù không có bánh xe và động vật lớn, họ vẫn có thể dựng nên hàng trăm bức tượng đá khổng lồ, gọi là “moai”. Bức tượng lớn nhất cao 9,8 m và nặng 80 tấn. Một moai khác có biệt danh là “El Gigante” cao xấp xỉ 22 m và nặng ít nhất 145 tấn, nhưng nó chưa bao giờ ra khỏi mỏ.

Thế nhưng, đến những năm 1800, mọi bức tượng đều bị đánh ngã, dân cư tan rã và những người lãnh đạo cùng các thầy tu trên đảo cũng bị lật đổ.

Tượng đá khổng lồ moai.

Dựa vào phân tích mảnh than và phấn hoa trong các lõi trầm tích, các nhà khoa học phát hiện dân đảo Phục Sinh đã đốn đến cái cây cuối cùng và loài chuột đã ăn hạt giống trước khi rừng có thể tái nảy mầm.

Loại trừ khả năng thảm thực vật thu hẹp do làm dây thừng, thuyền đi biển hay đốt cỏ làm nhiên liệu, thảm họa sinh thái này có thể đã mở ra một thời kỳ nạn đói khủng khiếp diễn ra liên tục và nội chiến.

Năm 1722, những người châu Âu đầu tiên mới đặt chân lên đảo Phục Sinh và lập tức bắn chết một số dân bản địa. Vào những năm 1870, nhiều đợt dịch đậu mùa và một cuộc tấn công lớn của nô lệ Peru làm giảm xuống chỉ còn khoảng 100 người dân bản địa.

5. Người Viking ở Greenland


Theo những bài dân ca Iceland, Erik Đỏ đã dẫn một đội gồm 25 con tàu đến xâm chiếm Greenland vào khoảng năm 985, không lâu sau khi ông bị trục xuất khỏi Iceland vì tội ngộ sát.


Sau khi thiết lập hai thuộc địa – khu định cư lớn hơn ở phía Đông và nhỏ hơn ở phía Tây – người Viking bắt đâu chăn thả dê, cừu và trâu bò, xây dựng những nhà thờ đá vẫn còn đến ngày nay, săn bắn tuần lộc và hải cẩu.

Trong hàng trăm năm, dân số của họ tăng lên khoảng 5000 người. Tuy nhiên, khi một đoàn thám hiểm truyền giáo đến Greenland năm 1721, dự định cải đạo những người ở đây sang đạo Tin Lành, người ta chỉ còn thấy những đống đổ nát.

Các nhà khảo cổ xác định khu định cư phía Tây sụp đổ vào khoảng năm 1400 và khu định cư phía Đông bị bỏ hoang vài thập kỷ sau đó. Gần như chắc chắn sự khởi đầu của một thời kỳ tiểu băng hà vào thế kỷ 14 là một yếu tố dẫn đến sự biến mất bí ẩn của người Viking ở Greenland.

Nó tạo ra băng biển ngăn chặn con đường ra vào Greenland, rút ngắn mùa gieo trồng và mùa sinh trưởng. Tồi tệ hơn, thị trường xuất khẩu mặt hàng chính của người Greenland là ngà hải mã sụp đổ. Không ai biết tại sao nhưng đó là đòn chí tử đối với cộng đồng ở đây.

Một số sử gia tin rằng, họ đơn thuần đóng gói và trở về Iceland hoặc Scandinavia. Trong khi số khác lại nghĩ, người Viking Greenland chết đói, không chống chịu nổi bệnh dịch hạch hoặc bị tiêu diệt bởi người Inuit – đến Canada vào khoảng năm 1200.

Dù sao người Viking cũng không phải cộng đồng duy nhất sụp đổ trên Greenland. Có ít nhất 3 nhóm người đã biến mất ở hòn đảo này, trong đó có người Dorset, từng có thời gian ngắn sống chung đảo với người Viking và Inuit.

Thứ Năm, 16 tháng 2, 2017

Bí ẩn Kim Tự tháp 8.000 năm lớn nhất hành tinh ở Trung Quốc

Câu chuyện về Kim Tự tháp Trung Quốc khổng lồ và được cho là lớn gấp nhiều lần so với Đại Kim Tự tháp Ai Cập đến giờ vẫn là bí ẩn, bởi chính quyền Trung Quốc không cho phép nghiên cứu về công trình này.

Hình ảnh KIm Tự Tháp Trung Quốc do quân đội Mỹ cung cấp.

Rất nhiều nhà khoa học từ khắp nơi trên thế giới mong muốn được nghiên cứu kỹ lưỡng Đại Kim Tự tháp Trung Quốc, đưọc cho là nằm gần thành phố Tây An. Tuy nhiên từ trước đến nay vẫn không nhận được sự cho phép của Trung Quốc.
Có một số người đã mạo hiểm tìm cách lẻn vào khu vực Kim Tự tháp và có những phát hiện khó tin. Kim Tự tháp này được xây dựng bởi 1 thứ hợp kim chưa từng được biết đến, và người ta ước lượng nó đã được xây dựng từ cách đây ít nhất 8.000 năm.

Nhiều nhà khoa học đã đặt câu hỏi, liệu có phải chúng là Kim Tự tháp lớn nhất thế giới? Một nhà thám hiểm từng lẻn được vào khu vực cấm đoán này đã tiết lộ, Đại Kim Tự tháp Trung Quốc lớn hơn nhiều so với Đại Kim Tự tháp ở Giza, Ai Cập.

Kim Tự tháp khổng lồ chụp từ trên không.

Sự tồn tại của Đại Kim Tự tháp Trung Quốc bắt đầu từ cuối Thế Chiến II, khi phi công Mỹ James Gaussman sắp hoàn thành nhiệm vụ cấp nhiên liệu trên không cho quân đội Trung Quốc. Bỗng dưng động cơ máy bay gặp vấn đề, buộc viên phi công này phải trở về căn cứ Assam tại bắc Ấn Độ. Vì lý do an toàn, ông quyết định bay ở cao độ thấp.

Ngay sau khi bay trên thành phố Tây An hướng tây nam, ông nhìn thấy công trình giống hệt một tòa Kim Tự tháp khổng lồ.

Vì quá đỗi ngạc nhiên nên ông đã bay qua bay lại vài lần trên cấu trúc vĩ đại này, và không quên chụp rất nhiều bức hình để khi về căn cứ, ông đã trao cho thượng cấp của mình.

Vụ việc tuy nhiên sau đó bị lãng quên và nằm trong đống hồ sơ của Không quân Hoa Kỳ cho tới tận 40 năm sau. Đại Kim Tự tháp Trung Quốc được mang ra ánh sáng khi tác giả Australia Brian Crowley đã xuất bản cuốn sách kèm một trong những tấm hình nói trên.

Và hóa ra phi công James không phải là người đầu tiên nhìn thấy cấu trúc khổng lồ bí ẩn này. Trên thực tế, vào Tháng 3/1947, khi chiến tranh đã chấm dứt, tờ New York Times từng ra số có bài viết nói về phát hiện của Thượng tá Maurice Sheehan khi đang bay trên bầu trời và nhìn thấy một Kim Tự tháp khổng lồ ở Trung Quốc. Thượng tá Maurice áng chừng Kim Tự tháp này có chiều cao khoảng 300 m và mỗi cạnh chu vi tầm 450 m.

Như vậy kích cỡ này rõ ràng khiến cho Kim Tự tháp Trung Quốc trở thành Kim Tự tháp lớn nhất từng được phát hiện ở Trái Đất, và Đại Kim Tự tháp Giza với chiều cao chỉ 147 m, các cạnh cỡ 320 m chẳng là gì.

Quần thể Kim Tự tháp khổng lồ ở Tây An

Một thực tế thú vị hơn nữa là Đại Kim Tự tháp Ai Cập có diện tích khoảng 52.900 m2, còn Đại Kim Tự tháp Trung Quốc vượt xa với diện tích là 202.000 m2.

Nhiều năm sau, không ít phi công báo cáo đã chứng kiến công trình Đại Kim Tự tháp này ở Trung Quốc và họ chụp rất nhiều ảnh, qua vệ tinh để làm minh chứng cho sự tồn tại của cấu trúc bí ẩn đặt tại châu Á này.

Tuy nhiên chính quyền Trung Quốc không hiểu vì sao lại phủ nhận sự tồn tại của cấu trúc bí ẩn này.

Vào đầu thế kỷ thứ 20, các nhà thám hiểm và thương gia, trong số đó có 2 công dân Đức Frederick Schroeder và Oscar Maman đã cung cấp bằng chứng cho biết rằng có khá nhiều Kim Tự tháp nằm rải rác gần thành phố Tây An của Trung Quốc.

Tuy nhiên bí ẩn đằng sau chúng còn thú vị hơn nhiều khi dần dần được khám phá. Theo nhiều báo cáo, một vài nhà thám hiểm đã nỗ lực lấy được mẫu vật liệu bằng kim loại tìm thấy xung quanh Kim Tự tháp này.

Chuyên gia khảo cổ xác nhận chúng phải tồn tại ít nhất 8.000 năm, tuy nhiên điều bí ẩn hơn cả không nằm ở đó, mà là không ai biết được vật liệu cấu tạo nên những công trình này là gì, bởi chúng hoàn toàn không tồn tại trong từ điển của khoa học hiện đại.

Thứ Ba, 14 tháng 2, 2017

Một thành phố lớn, nằm sâu hơn 700m dưới mặt nước gần Cuba, đã được phát hiện bởi kỹ sư hàng hải Pauline Zalitzki, và chồng cô, Paul Weinzweig. Các nhà khoa học ước tính niên đại của nó lên đến 200.000 năm tuổi.

Phát hiện thành phố cổ chìm dưới đáy biển Cuba. (Ảnh: Internet)

Sau khi phân tích mẫu vật lấy từ một khu đất ngập nước, các nhà khoa học đã rất ngạc nhiên. Theo Manuel Iturralde, một nhà địa chất biển, phải mất khoảng 50.000 năm để thành phố này chìm xuống đến mức xa như thế. Các nhà khoa học ước tính niên đại của nó là 200.000 năm tuổi.

Không có một nền văn minh nào từng được biết đến có khả năng xây dựng những công trình như vậy. Giờ đây, một câu hỏi lớn được đặt ra là, ai đã tạo nên khu phức hợp khổng lồ này. Có thể đó mà một nền văn minh cổ đại mà nhân loại chưa từng biết đến đã bị hủy diệt khi đại dương nhấn chìm.

Theo Pauline Zalitzki, thành phố được tìm thấy thuộc thời kỳ tiền sử ở vùng Caribê và Trung Mỹ, dân cư ở đây có thể thuộc một nền văn minh cổ đại tiên tiến, tương tự văn hóa Teotihuacan.

Giáo sư Tiến sĩ Hải dương học Robert Ballard có một ý kiến ​​khác. Ông cho rằng các cấu trúc này được tạo ra từ một nền văn minh ngoài Trái đất, “Nó quá sâu, tôi sẽ rất ngạc nhiên nếu là do con người tạo ra. Bạn sẽ phải tự hỏi, làm thế nào nó có thể ở đây?”

(Ảnh: Internet)

Một giả thuyết khác cho rằng đây chính là thành phố Atlantis huyền thoại mà Triết gia Hy Lạp cổ đại Plato đã nói đến. Theo Plato, Atlantis đã bị phá hủy bởi những trận động đất dữ dội và lũ lụt cách đây 10.000 năm.

Lục địa huyền thoại bị nhấn chìm, cho tới nay vẫn chưa có sự thống nhất của các nhà khoa học về sự tồn tại và biến mất của Atlantis. Nhiều nhà khoa học và truyền thuyết kể rằng Atlantis đã bị nhấn chìm dưới biển sâu.

Theo Wikipedia, thủ đô của Atlantis thực sự là một kỳ quan kiến trúc và công trình xây dựng kỳ vĩ bao gồm những bức tường thành và kênh đào hình tròn đồng tâm. Ở trung tâm thành phố là một quả đồi lớn, trên đỉnh đồi là nơi đặt đền thờ Poseidon – Vị thần biển cả.

Bên trong đền chính là bức tượng Thần biển bằng vàng đang cưỡi ngựa thần sáu cánh. Khoảng 9.000 năm trước thời của Plato, sau khi vương quốc Atlantis trở nên suy tàn, các vị thần quyết định phá huỷ lục địa này bằng một trận động đất khủng khiếp với những cơn sóng thần nhấn chìm toàn bộ những công trình và nền văn minh Atlantis xuống đáy biển.

Vùng đất bên dưới thành phố có thể đã bị chìm do thiên tai. Nhưng thật khó để tin rằng những công trình xây dựng lại có thể tồn tại sau một thảm họa tự nhiên như vậy.

Khi nhìn vào một bản đồ của vùng Caribe, rõ ràng thấy rằng vùng đất Caribê giống như một rào cản giữa Vịnh Mexico và vùng biển Caribê. Có thể rất nhiều năm về trước, những hòn đảo này không phải là đảo và vùng biển này cũng không phải là biển.

Liệu có khả năng vùng biển Caribê từng là một vùng lòng chảo khô cằn vào lúc con người tiền sử từng sinh sống?


Thứ Năm, 9 tháng 2, 2017

4 cổ vật bí ẩn nhất thế giới khoa học vẫn chưa thể giải thích

Từ trước đến nay các nhà khảo cổ đã khai quật được rất nhiều cổ vật, trong đó có những thứ chứa rất nhiều bí ẩn mà bất kỳ nhà sử gia hay nhà khoa học nào khi nói đến cũng phải đau đầu.

1. Pin Baghdad

Minh họa pin Baghdad từ bức tranh cổ vật tạo tác của bảo tàng. (Ảnh: Wikimedia Commons)

Có vẻ như người cổ đại đã biết sử dụng điện năng từ rất lâu. Năm 1930, nhà khảo cổ người Đức Wilhelm Konig tìm thấy những thiết bị bí ẩn được chế tạo từ cách đây 2.000 năm ở khu khảo cổ gần Baghdad cho nên đặt tên chúng là “pin Baghdad”.

Pin Baghdad có cấu tạo khá đơn giản với lớp vỏ ngoài làm bằng đất sét nung, nắp pin làm từ nhựa đường. Một thanh sắt gắn xuyên qua nắp bình, nằm trong một ống đồng. Sau đó, bình được đổ đầy dấm, rượu vang hoặc hoặc một số chất có tính axit khác. Chúng đóng vai trò là dung dịch điện phân, giúp pin tạo ra điện. Thiết bị này có thể tạo ra dòng điện lên tới 1 volt.

Nhiều người hoài nghi thường tìm cách giải thích sự xuất hiện của các đồ vật này là do hiện tượng tự nhiên. Tuy vậy, pin Baghdad rõ ràng là đồ vật do con người tạo ra và có khả năng sản sinh ra điện, nhưng mục đích sử dụng thật sự của chúng ở 2.000 năm trước vẫn còn là điều bí ẩn đối với nhân loại ngày nay.

Một giả thuyết cho rằng thiết bị này đã được dùng để điện phân vàng, tuy nhiên điều làm các nhà khảo cổ đau đầu đó là tại sao một công nghệ tiên tiến như vậy lại xuất hiện ở thời kỳ cổ đại và hoàn toàn không thấy xuất hiện ở các khu vực lân cận.

2. Tượng vàng Inca



Bức tượng vàng bí ẩn được tìm thấy trong đền thờ Inca ở Colombia, Nam Mỹ, có hình dáng giống hệt một thiết bị bay. Ước tính nó có niên đại khoảng năm 1.000 TCN – 1.000.

Năm 1996, hai nhà nghiên cứu người Đức Algund Eenboom và Peter Belting đã chế tạo mô hình có thiết kế tương tự bức tượng này với tỉ lệ 16:1. Họ đã lắp đầy đủ hệ thống động cơ và vô tuyến điều khiển cho nó.

Kết quả thật bất ngờ, bản dựng trên không chỉ có thể bay tốt và dễ điều khiển mà còn có thể tiếp tục bay một thời gian khá lâu sau khi động cơ bị tắt.


3. Đĩa Gen cổ đại


Hiện vật đặc biệt này được Giáo sư Jamie Gutierrez phát hiện ở Colombia. Vì nó không phù hợp với bất kỳ nền văn hóa thời tiền Columbo nào được biết đến, nên các nhà khoa học giả định niên đại của chiếc đĩa vào khoảng hơn 6.000 năm tuổi và được tạo ra bởi một nền văn minh cổ xưa chưa được biết đến.

Đĩa gen cổ đại có đường kính khoảng 27cm và nặng 2kg, chứa những hình ảnh chi tiết của một bản đồ gen mà các nhà khoa học ngày nay phải cần đến kính hiển vi mới có thể quan sát để vẽ ra những hình ảnh tương tự.


Các đĩa này được chế tạo từ một vật liệu đặc biệt cứng, và không ai có thể biết được làm thế nào mà với kỹ thuật thô sơ thời cổ đại lại có thể chế tác ra một sản phẩm như vậy nên có ý kiến cho rằng hiện vật được chế tạo bằng công nghệ người ngoài hành tinh.


4. Cỗ máy Antikythera


Cỗ máy Antikythera là một trong những cơ chế tính toán lâu đời nhất được biết đến, có lẽ là máy tính đầu tiên trong lịch sử, với thiết kế phức tạp.


Sau nhiều thập kỷ nghiên cứu, các nhà sử học xác định rằng cơ chế cỗ máy có thể hiển thị vị trí của Mặt Trời, Mặt Trăng, sự chuyển động của các hành tinh trên bầu trời, cũng như dự đoán nhật thực, nguyệt thực và thậm chí cả sự kiện quan trọng trên Trái đất.


Một số chuyên gia khẳng định rằng thiết kế của cỗ máy có ảnh hưởng đến các thiết bị tương tự trong hàng thiên niên kỷ sau.

Ảnh đồ họa cấu tạo của Antikythera.