Tổng số lượt xem trang

Thứ Tư, 16 tháng 10, 2013

6 nữ tướng cướp nổi tiếng chấn động mặt biển

Mặc dù sở hữu diện mạo xinh đẹp, gia thế tốt nhưng Sayyida al Hurra, Teuta vùng Illyria… đã chọn hành nghề cướp biển.

1. Sayyida al Hurra


Sayyida al Hurra sinh khoảng năm 1485 trong một gia đình Hồi giáo nổi tiếng ở Vương quốc Granada. Gia đình cô đã buộc phải rời bỏ ngôi nhà bao năm sinh sống vào năm 1492, sau cuộc thanh trừng của tòa án dị giáo Tây Ban Nha. Sau đó, gia đình cô định cư tại Chaouen, Morocco. Năm 1515, người chồng doanh nhân của Hurra qua đời. Khi đó, cô trở thành thống đốc Tetouan. Khi ở vị trí này, cô đã gặp và kết hôn với vua Morocco Ahmed al- Wattasi. Mặc dù cô ấy sẽ có cuộc sống giàu sang hơn khi kết hôn với người đứng đầu đất nước nhưng Hurra đã quyết định rời khỏi nhà và rong ruổi trên đường. Năm 1542, con riêng của chồng đã lật đổ Hurra. Số phận của cô không ai biết rõ.

2. Nữ hoàng cướp biển Teuta vùng Illyria


Rất ít người có đủ dũng khí để đối đầu với La Mã. Nhưng nữ hoàng cướp biển như Teuta lại có thể trực tiếp đối đầu với họ. Sau khi chồng của bà là vua Ardiaei qua đời, Teuta thừa kế điều hành Vương Quốc Ardiaean kể từ năm 231 trước công nguyên. Trong nỗ lực giải quyết những bất đồng với các nước láng giềng, Teuta đã hỗ trợ nhóm cướp biển hoạt động ở vương quốc mình cai trị. Do đó, cô đã đánh chiếm được các thành phố Dyrrachium và Phoenice. Không dừng lại ở đó, nhóm cướp biển mà Illyria đỡ đầu còn tấn công các thuyền buôn của Rome và Hy Lạp. Hai đại sứ gửi người La Mã được cử đến gặp Teuta đều bị cướp biển bắt giữ. Trong đó, một người bị giết và người còn lại bị giam cầm. Năm 229 trước công nguyên, La Mã đã tuyên chiến với nữ hoàng cướp biển. La Mã điều lực lượng gồm 20.000 quân và một hạm đội 200 tàu đến vùng chiến sự khiến Teuta phải đầu hàng năm 227 trước công nguyên. Mặc dù vương triều của Teuta vẫn tiếp tục tồn tại, nhưng người La Mã cấm Teuta không bao giờ được ra khơi nữa.

3. Anne Bonny


Nữ tướng cướp Anne Bonney sinh ra vào khoảng năm 1697 - 1700 ở County Cork, Ireland. Bà là con ngoài giá thú của luật sư William Cormac. Ông đã có quan hệ bất chính với cô hầu gái của vợ cũ. Khi bị mọi người phát hiện, William đã đem con gái và nhân tình đến vùng đất khác ẩn náu để tránh tai tiếng của người đời.
Ngay từ khi còn nhỏ, cô thường đóng giả con trai và có khả năng đánh nhau vượt trội. Năm 16 tuổi, với tính cách mạnh mẽ, Anne bỏ trốn theo tên cướp biển James Bonney, lấy hắn làm chồng bất chấp sự phản đối của cha. Kể từ đó, cô bắt đầu dấn thân vào con đường tội lỗi.
James đã đưa cô đến hang ổ của hải tặc ở New Providence, Bahamas. Trong thời gian sống cùng, Anne nhận ra hắn là kẻ hèn nhát, không có chí tiến thủ nên dần nhạt phai tình cảm. Cùng thời gian đó, cô đã gặp và đem lòng yêu thuyền trưởng cướp biển ngang tàng Jack Rackham.
Biết vợ có quan hệ bất chính, James bắt cóc và hành hạ Anne trước mặt nhiều người. Để cứu nhân tình của mình, Rackham đưa ra đề nghị nhường lại cho James một phần trong số tài sản khổng lồ của mình và yêu cầu hắn để yên cho Anne. Cô đã mang thai với Rackham và chỉ tạm nghỉ công việc của nữ tướng cướp trong thời gian rất ngắn đủ để sinh con. Sau đó, cô đã gửi con cho một người bạn ở Cuba trông nom giúp để lại được bôn ba với những tháng ngày trên mặt biển.
Vào một đêm cuối tháng 10/1720, tàu của hải tặc Rackham đang neo đậu ngoài khơi bờ biển Point Negril, Jamaica để ăn mừng phi vụ mới hoàn thành thì bị một chiếc tàu Hải quân Anh do thuyền trưởng Jonathan Barnet tấn công bất ngờ. Do đang trong tình trạng say rượu, nên đội quân cướp biển chống cự yếu ớt và nhanh chóng bị thu phục. Tất cả bọn cướp biển bị bắt về quy án, trong đó có cả Anne. Thủ lĩnh băng đảng Jack và các thành viên còn lại bị kết án treo cổ vào tháng 11/1720. Còn Anne may mắn thoát tội vì được cha hối lộ tòa án.

4. Ching Shih


Ching Shih sinh năm 1775, là nữ tướng ướp gây chấn động mặt biển khu vực gần Trung Quốc hồi thế kỉ XIX. Mặc dù người ta tìm được rất ít thông tin về thời thơ ấu và trưởng thành của Ching Shih nhưng họ cũng biết được rằng, cô từng là gái lầu xanh hành nghề ở thành phố Canton. Năm 1801, cô bị một nhóm cướp biển. Sau đó, cô kết hôn với thuyền trưởng nhóm cướp biển đã bắt cóc mình là Zheng Yi.
Zheng thành lập một liên minh cướp biển với tên gọi là Hạm đội cờ đỏ. Sau khi Zheng Yi qua đời năm 1807, Ching trở thành thủ lĩnh hạm đội cướp biển trên. Với quân số gồm hơn 300 tàu cùng 40.000 cướp biển, họ từng là nỗi kinh hoàng cho cả bộ chỉ huy hạm đội Anh. Không những vậy, Hải quân Trung Quốc cũng mất 63 tàu trong cuộc chiến với hạm đội cướp biển đó, buộc triều đình phải ban lệnh ân xá vào năm 1810. Khi đó, hạm đội cướp biển chấp nhận lời thỏa hiệp của chính phủ.

5. Anne Dieu-Le-Vuet


Anne Dieu-Le-Vuet sinh vào khoảng năm 1650. Cô từng là một tên tội phạm bị đày từ Pháp tới Tortuga giữa năm 1665 - 1675. Khi ở Tortuga, Anna đã kết hôn với cướp biển Pierre Length.
Năm 1683, Pierre bị giết trong một cuộc ẩu đả với tên cướp khác là Laurens de Graaf. Khi đó, Anna đã đòi thách đấu với Laurens nhưng bị từ chối. Sau đó, tên này vì ấn tượng bởi vẻ nóng tính của Anna nên đã cầu hôn cô và được cô nhận lời.
Kể từ đó, Anne cùng chồng ra khơi tấn công các tàu buôn và thậm chí đã tiến hành cướp bóc Jamaica năm 1693. Đến năm 1694, người Anh tấn công Tortuga và bắt được Anne cùng 2 cô con gái. Mặc dù bị bắt nhưng 3 mẹ con nữ cướp biển được đối xử tử tế. Không những vậy, họ còn gặp lại Laurens vào năm 1698. Tuy nhiên, kể từ đó, không ai nhìn thấy hay biết tin tức gì về gia đình cướp biển này.

6. Christina Anne Skytte



Nữ cướp biển Christina Anne Skytte sinh năm 1643. Cô là con của Baron Jacob Skytte sống ở vùng Dudehof, Thụy Điển. Anh trai của cô là Baron Gustav Skytte. Khi đó, Baron vẫn không thỏa mãn với khối tài sản khổng lồ của mình và sống cuộc đời bí mật khác khi trở thành cướp biển kể từ năm 1657. Nhóm cướp biển của hắn chuyên tấn công và cướp bóc các tàu trên vùng biển Baltic.
Cùng với chồng chưa cưới là Gustaf Drake, Christina đã trở thành một đối tác trong "công việc" với anh trai mình. Năm 1663, cô tham gia phi vụ tấn công một tàu buôn Hà Lan, giết chết thủy thủ đoàn và cướp toàn bộ hàng hóa. Cuộc tấn công kinh hoàng trên đã khiến giới chức trách lao vào cuộc truy bắt hung thủ. Cuối cùng, họ bắt và xử tử hôn phu Gustaf của Christina. Trong khi đó, cô buộc phải bỏ trốn khỏi Thụy Điển và sống lưu vong nay đây mai đó.

Thứ Ba, 15 tháng 10, 2013

5 lời nguyền nghiệt ngã ám ảnh nhân loại

Lời nguyền "kim cương xanh" khiến Hoàng hậu Thái Lan Sirikit đột quỵ hay lời nguyền lãnh chúa Tamerlane khiến 7,5 triệu người mất mạng... trở thành nỗi ám ảnh kinh hoàng.

1. Lời nguyền "kim cương xanh"


Tháng 7/2012, Hoàng hậu Thái Lan Sirikit được người dân vô cùng yêu quý đã bị đột quỵ và không xuất hiện trước công chúng. Điều này sẽ không trở thành tâm điểm bàn tán của dư luận nếu như không xuất hiện những tin đồn về một lời nguyền kéo dài hàng thập kỷ trước đó. Nguồn gốc của lời nguyền nghiệt ngã trên bắt đầu từ việc xảy ra một trong những vụ trộm nữ trang hoàng gia kinh hoàng nhất lịch sử.

Câu chuyện bắt đầu tại cung điện của gia đình hoàng gia Ả Rập Saudi năm 1989. Khi đó, một người gác cổng Thái đã đột nhập vào phòng Hoàng tử Faisal và lấy trộm đồ trang sức trị giá 20.000.000 USD. Sau đó, người này đã tuồn chúng về Thái Lan bằng cách giấu đồ ăn cắp trong máy hút bụi. Trong số các món đồ trang sức có giá trị của hoàng tử Ả Rập Saudi bị đánh cắp có một viên đá quý 50 carat và được gọi là "kim cương xanh".

Nhà chức trách Saudi đã thông báo cho cảnh sát Thái Lan vụ việc và nhanh chóng bắt được tên trộm. Tuy nhiên, y đã kịp bán một số đồ trang sức đó trước khi bị cảnh sát tóm tại chợ đen. Số còn lại đã được cảnh sát Thái Lan hoàn trả cho gia đình hoàng gia Thái Lan. Một nửa số trang sức được trả lại là hàng giả. Không những vậy, "kim cương xanh" vẫn biệt tích. Cảnh sát Thái Lan còn cho rằng, có thể viên đá quý đó không tồn tại. Điều đó khiến thông tin về vụ trộm cắp trang sức hoàng gia càng trở nên tồi tệ hơn.

Đối với một viên ngọc quý mà chưa bao giờ được chứng minh chắc chắn là tồn tại thì "kim cương xanh" gây ra nhiều vấn đề hơn là giá trị vật chất của nó. Nó được cho là bị ma ám. Lời nguyền về viên đá quý này đầu tiên xuất hiện vào tháng 2/1990. Khi đó, 3 nhà ngoại giao Ả Rập Saudi (những người đã được giao nhiệm vụ điều tra các vụ trộm cắp đồ trang sức) đều bị giết hại trong cùng một đêm. Cảnh sát Thái Lan khẳng định rằng, không có bằng chứng nào cho thấy vụ giết người có liên quan đến viên đá quý có tên "kim cương xanh". Tuy nhiên, người Ả Rập Saudi nghĩ khác và nghi ngờ chính quyền đã che đậy vụ việc.

Những nghi ngờ của họ đã dấy lên khi báo chí địa phương đưa tin rằng, một vài phu nhân của những quan chức quyền lực nhất Thái Lan đã được nhìn thấy đeo đồ trang sức giống như viên đá quý mà hoàng gia Ả Rập Saudi bị mất. Điều khá thú vị là người ta cáo buộc hoàng hậu Sirikit cũng từng xuất hiện với viên đá quý đó trước khi bị đột quỵ và không còn xuất hiện trước công chúng. Nhiều người tin rằng, Hoàng hậu Sirikit là nạn nhân mới nhất của lời nguyền "kim cương xanh".

2. Lời nguyền nghiệt ngã khiến hàng triệu người bị giết


Năm 1941, một nhóm các nhà nhân chủng học Xô Viết đã đến Uzbekistan để thực hiện chuyến thám hiểm đã được nhà nước phê chuẩn. Nhiệm vụ của họ là xác định vị trí ngôi mộ của Tamerlane và khai quật thi thể bên trong. Tamerlane là một lãnh chúa nổi tiếng sống ở thế kỷ XIV và được xem là anh hùng dân tộc ở Uzbekistan. Trước bối cảnh đó, các giáo sĩ Hồi giáo địa phương đã không thể ngăn cản nỗ lực khai quật ngôi mộ lãnh chúa Tamerlane của nhóm chuyên gia Xô Viết. Tuy nhiên, họ cảnh báo rằng, nếu đánh thức giấc ngủ vĩnh hằng của lãnh chúa thì thảm họa sẽ ập đến vào ngày thứ ba.
Khi nghe điều đó, lãnh đạo nhóm thám hiểm Mikhail Gerasimov đã bỏ ngoài tai lời đe dọa đó và coi nó là điều mê tín dị đoan của người dân địa phương. Họ tiếp tục công việc khai quật thi thể lãnh chúaTamerlane và mở quan tài của ông vào ngày 19/6/1941.

Bên ngoài quan tài có viết một dòng chữ có nội dung: “Khi tôi từ cõi chết trở về, thế giới sẽ run sợ". Ba ngày sau, phát xít Đức đã bất ngờ phát động cuộc chiến Barbarossa và xâm lược Liên Xô. Đó có phải là điều trùng hợp ngẫu nhiên? Có lẽ vậy. Sự kiện này đã khiến thế giới phải rúng động.

Điều thú vị là khi cuộc chiến Đức - Xô bước vào giai đoạn bước ngoặt với chiến thắng của người Nga trong trận đánh Stalingrad, Stalin đã ra lệnh đem chôn cất thi hài lãnh chúa Tamerlane tại Uzbekistan theo nghi lễ chôn cất của người Hồi giáo. Lời nguyền được cho là đã bị hủy bỏ kể từ đó nhưng vẫn để lại hậu quả nặng nề. Cụ thể, mặc dù Liên Xô cuối cùng giành chiến thắng trong cuộc chiến chống xâm lược của phát xít Đức nhưng 7,5 triệu người dân Liên Xô đã chết trong cuộc chiến khốc liệt đó.

3. Lời nguyền Nữ thần núi lửa Hawaii


Giáo sư Kame'eleihiwa đến từ Đại học Hawaii cho hay: "Nếu bạn không tôn trọng Pele, cô ấy sẽ giết chết bạn". Timothy Murray có thể ước gì mình biết điều đó trước khi chuyển đến Honolulu. Trong từ điển của mình, Timothy đã "luôn luôn có sự may mắn" bên cạnh. Điều đó chỉ đúng trước khi Timothy làm cho Nữ thần lửa và núi lửa Hawaii là Pele buồn phiền.

Một ngày nọ, Timothy quyết định đến công viên quốc gia núi lửa Hawaii tham quan. Bị mê hoặc bởi những hạt cát đen, ông đã lấy một ít và mang về nhà rồi đựng trong một chai nước rỗng. Sau đó, mọi việc xung quang ông bắt đầu trở nên tồi tệ. Người bạn gái mà Timothy đã hẹn hò trong 5 năm đã bỏ ông ta. Sau đó, FBI cũng bắt ông vì vi phạm bản quyền máy tính. Thú cưng mà Timothy cũng đột ngột qua đời.
Nhưng lời nguyền Nữ thần núi lửa Hawaii không chỉ linh ứng đối với Timothy Murray. Theo một truyền thuyết Hawaii, bất cứ ai di chuyển một mẩu đá núi lửa hay cát đều sẽ phải chịu cơn thịnh nộ của Nữ thần núi lửa Hawaii Pele. Bởi lẽ, vị nữ thần này được cho là rất tức giận khi những tảng đá (mà nữ thần núi lửa coi chúng như những người con của mình) bị du khách lấy đi. Do đó, Nữ thần Pele sẽ trả thù một cách khủng khiếp bằng cách buông ra lời nguyền nghiệt ngã đối với những người đó.
Công viên quốc gia núi lửa Hawaii còn có một dòng suối chảy mãi không bao giờ kết thúc. Nhiều người đã viết thư xin lỗi rồi gửi đến nữ thần núi lửa và cầu xin người xóa bỏ lời nguyền, tha thứ cho những tội lỗi mà họ đã phạm phải khi đến đây.

4. Lời nguyền của người nhện



Rất nhiều người đã nghe nói đến Lời nguyền của người nhện nhưng nó trở lên lu mờ so với trước đây bởi vì nó được đặt tên cho một siêu anh hùng nổi tiếng trong phim ảnh. Buổi trình diễn đắt giá nhất lịch sử của nhà hát Broadway (Mỹ) có tên"Spider-Man: Turn Off The Dark” được cho là bị ám bởi lời nguyền trên. Buổi biểu diễn đó phải hoãn lại nhiều lần do trục trặc kỹ thuật cũng như diễn viên gặp một số chấn thương. Kể từ đó, các phương tiện truyền thông bắt đầu để ý đến và lo ngại liệu lời nguyền người nhện có tồn tại hay không.

Lời nguyền được cho là bắt đầu trong buổi diễn tập trở lại năm 2010. Khi đó, một diễn viên bị gãy chân và chấn thương sau khi diễn viên đóng thế không thể thực hiện được cảnh đó. Tiếp đến, một diễn viên đóng thế khác cũng gặp nạn khi bị chấn thương cổ tay. Vào đêm trước buổi công diễn, một trong những nữ diễn viên chính bị chấn thương vùng đầu do dây cáp gây ra. Vì vậy, cô đã không thể tham gia buổi diễn đó. Lãnh đạo chương trình đã phải tìm người thay thế cô.

Sau đó, một trong những vụ tai nạn nghiêm trọng nhất của nhà hát Broadway được công bố rộng rãi đó là một diễn viên đóng thế tham gia buổi diễn "Spider-Man Turn Off The Dark” bị thương nghiêm trọng trong buổi biểu diễn trực tiếp. Cụ thể, người này bị tổn thương xương sọ, xương bả vai, khuỷu tay, gãy 4 xương sườn và 3 đốt xương sống. Khi chứng kiến cảnh đó, một trong những nữ diễn viên trong đoàn đã la hét thảm thiết và nó cũng để lại ấn tượng kinh hoàng đối với những khán giả đến xem buổi diễn đó.

5. Lời nguyền của Muhammad đối với cô gái mồ côi


Nếu bạn đi qua một cô bé mỉm cười với bạn thì phản ứng tự nhiên của bạn là gì? Có lẽ hầu hết mọi người sẽ nở nụ cười đáp lại. Tuy nhiên, nhà tiên tri Muhammad đã không có phản ứng giống như vậy. Theo cuốn sách của Hồi giáo Sah, Muhammad đã nhìn cô gái và nói: "Có thể bạn sẽ không có thay đổi gì trong những năm tới!". Khi nghe điều đó, cô gái mồ côi bỏ chạy và khóc điên dại.

Tại sao nhà tiên tri của Thánh Allah mà điều đó? Khi được mọi người hỏi, Muhammad giải thích rằng, ông là một con người và đôi khi có thể không giữ được bình tĩnh. Ông trấn an người đi theo ông rằng đã đạt được một thỏa thuận với thánh Allah. Theo đó, bất cứ người nào bị ông đưa ra lời nguyền sai sẽ nhận được phần thưởng vào ngày lễ Phục Sinh.
Vì vậy, Muhammad sử dụng khả năng tiên tri của mình để chứng minh rằng, nếu một người nào đó không đáng bị nguyền rủa thì cũng không cần phải lo lắng. Họ sẽ được trả lại phần thưởng tương xứng. Tuy nhiên, người ta vẫn không biết được số phận của cô gái trẻ mồ côi vô danh trên. Người ta không biết liệu lời nguyền của Muhammad có khiến cô bé trên không còn sống để chứng kiến ngày sinh nhật tiếp theo hay không hoặc cô sẽ phải vĩnh viễn sống trong thân xác của một đứa trẻ suốt đời.

Thứ Hai, 14 tháng 10, 2013

Sự thật về sắc đẹp của nữ hoàng Ai Cập Cleopatra

Cleopatra, nữ hoàng của Ai Cập cổ đại đã truyền cảm hứng cho vô số tác phẩm nghệ thuật hơn hai nghìn năm qua. Nhưng liệu Cleopatra xinh đẹp như truyền thuyết?

Vị nữ hoàng nổi tiếng của Ai Cập cổ đại có tên đầy đủ là Cleopatra VII Philopator. Bà thường được gọi đơn giản là Cleopatra. Dù nhiều Nữ hoàng Ai Cập khác cũng có tên này song tất cả hầu như đã bị quên lãng. Nữ hoàng Cleopatra lên nắm quyền khi bà mới 17 tuổi và cai trị Ai Cập cổ đại từ năm 51 - 30 Trước Công nguyên, trước khi Chúa Kitô ra đời.

Huyền thoại về sắc đẹp của bà được xây dựng dựa trên mối quan hệ giữa bà với Julius Caesar và Mark Antony - hai nhà lãnh đạo La Mã hùng mạnh. Nhưng bà có thực sự sở hữu vẻ đẹp nghiêng nước nghiêng thành như vậy? Để trả lời, chúng ta hãy nhìn vào những bằng chứng lịch sử và khảo cổ học.


Hình ảnh Nữ hoàng Cleopatra trên đồng tiền xu cổ đại. Ảnh: Wikipedia. 

Hai thế kỷ sau khi Cleopatra trị vì Ai Cập cổ, sử gia người La Mã - Cassius Dio đã mô tả Cleopatra là "người phụ nữ có vẻ đẹp vượt trội" và "cực kỳ thông minh". Còn sử gia người Hy Lạp – Plutarch cho rằng "nhan sắc của bà không đủ nổi bật để có thể khiến ai vừa gặp cũng phải ngẩn ngơ".

Không hề có bức tượng bán thân nào được cho là khắc họa Cleopatra nhưng chúng ta có những hình ảnh khác nhau của bà trên những đồng tiền xu cổ đại. Trong những hình ảnh này, vẻ ngoài của bà hết sức bình thường, chiếc mũi khoằm và nam tính. Tuy nhiên, đồng tiền trong thế giới cổ đại chỉ mang mục đích tuyên truyền chính trị. Có thể bà cố ý khắc họa chân dung nam tính để hợp pháp hoá sự cai trị của một nữ hoàng trẻ.

Cũng cần lưu ý rằng, quan niệm về vẻ đẹp của người cổ đại rất khác với quan niệm của thế giới hiện đại. “Cleopatra có đẹp hay không?” có lẽ là câu hỏi vô ích nếu bà thực sự xinh đẹp trong mắt của những người sống trong thời kỳ đó.

Hoặc có thể chúng ta cần hiểu vẻ đẹp không phải là khái niệm đơn thuần, liên quan tới thân thể. Sử gia Dio cũng nói rằng, Cleopatra có "giọng nói ngọt ngào và biết cách làm cho mình hòa hợp với mọi người". Tương tự như vậy, sử gia Plutarch nói rằng, việc trò chuyện với nữ hoàng Cleopatra "có sự quyến rũ không thể cưỡng lại."


Nữ hoàng Cleopatra và con trai Cesarion. Ảnh: Wiki Commons. 

Sức hấp dẫn của Cleopatra không tới từ vẻ đẹp của cơ thể mà tới từ trí tuệ, tính cách và giọng nói của bà. Khi xem xét mối quan hệ sâu sắc giữa bà với Caesar và Antony, rõ ràng bà phải có sự hấp dẫn khác bởi cả hai đều là những người nổi tiếng là thu hút phụ nữ vì vậy họ sẽ không dễ dàng gục ngã trước Nữ hoàng chỉ bởi bà có cơ thể trẻ trung, quyến rũ.

Sắc đẹp của Nữ hoàng Cleopatra không vượt trội so với những người phụ nữ khác nhưng chính nhờ trí thông minh, quyến rũ và táo bạo, bà đã tiếp cận được hai trong số những người đàn ông quyền lực nhất của thế giới cổ đại.

Vẻ đẹp nổi tiếng nhất trong lịch sử nhân loại của Nữ hoàng Cleopatra là vẻ đẹp xất phát từ trí tuệ và bản lĩnh. Đây là bài học lớn cho chúng ta về cách định nghĩa vẻ đẹp trong thế giới hiện đại.

Chủ Nhật, 13 tháng 10, 2013

Hồ sơ mật về quả bom nguyên tử suýt san phẳng nước Mỹ

Nếu không vì một sai sót nhỏ trong mạch điện của quả bom nguyên tử thì có lẽ nước Mỹ đã bị "quét sạch" bởi nó bất ngờ "rơi" từ trên trời xuống.

Sự việc này đã được giấu kín hơn nửa thế kỷ cho đến khi tờ The Guardian công bố trên trang tài liệu mật.
Công tắc "cứu mạng" nước Mỹ

Năm 1961, một quả bom nguyên tử với sức công phá lớn gấp 260 lần quả bom hủy diệt thành phố Hiroshima và Nagasaki của Nhật trong Thế chiến II, đã rơi xuống bang Bắc Carolina trong tình trạng kích nổ. Ngay sau khi thông tin về vụ thả bom này được tiết lộ, cả nước Mỹ bắt đầu xôn xao và yêu cầu được biết sự thật xảy ra vào năm đó.

Theo tài liệu tờ Guardian của Anh có được, một trong số hai quả bom nguyên tử đã rơi xuống phía Bắc Carolina nhưng chỉ trong khoảnh khắc cuối cùng, do mạch điện áp không hoạt động nên nước Mỹ đã tránh được một thảm họa kinh hoàng. Chính phủ Mỹ đã xác nhận những sai sót của phi công lái chiếc B52 khi đó đang có nhiệm vụ bay qua không phận phía Bắc Carolina, khiến hai quả bom nguyên tử rơi xuống mặt đất, tuy nhiên, họ chưa bao giờ khẳng định một trong hai quả đã được lắp kíp nổ hoàn chỉnh.


Quả bom nguyên tử suýt phá hủy nước Mỹ. 

Sáng ngày 23/5/1961, trong khi tuần tra liên tục 24 giờ trên không phận nước Mỹ và Đại Tây Dương để đối phó chiến tranh lạnh với Liên Xô cũ, chiếc máy bay ném bom chiến lược B52 chở hai quả bom hydro số hiệu 39 đang bay qua không phận bang Carolina để tiếp nhiên liệu thì bất ngờ gặp sự cố. Điều này buộc tổ bay phải thả hai quả bom xuống khu vực Goldboro, Bắc Carolina. Nhưng, không biết do sự cố hay vô tình mà một trong hai quả bom đã được lắp kíp nổ hoàn chỉnh.

Phi hành đoàn cho biết, trong khi tiếp xăng, cánh phải của B52 bị chảy dầu và họ đã ngừng bơm xăng. Chiếc B52 phải cố bay ra khỏi vùng biển để xả hết lượng xăng vừa bơm, nhưng máy bay đã chảy hết sạch số xăng chỉ trong ba phút, nhanh hơn dự kiến rất nhiều, khiến máy bay mất kiểm soát và rơi xuống đất. Phi hành đoàn gồm 8 người nhảy dù khỏi máy bay và chiếc máy bay đã nổ tung trên không. Hai quả bom lao thẳng xuống mặt đất. Nguy hiểm là một trong hai quả bom đã tự động kích hoạt trạng thái sẵn sàng nổ khi chạm đất, dù được bung ra, cơ chế kích nổ được kích hoạt.

Tuy nhiên, quả bom này khi đâm xuống một cánh đồng đã không nổ. Nhiều khu vực, trong đó có New York, Baltimore, Washington và Philadelphia đã không bị tàn phá, chỉ nhờ một công tắc chuyển đổi điện áp thấp đơn giản trên quả bom này đã hoạt động thành công, ngăn không cho kích hoạt điện áp cao để kích nổ lõi hạt nhân của đầu đạn khi chạm đất. Đáng nói là có bốn công tắc an toàn để tránh trường hợp tự kích nổ trong quả bom thì cả ba cái đều không hoạt động, trừ cái thứ tư.

Nhà báo Eric Schlosser - người công bố tài liệu mật này tiết lộ: "Quả bom sau đó đã được quân đội Mỹ thu giữ thành công. Sau khi kiểm tra, họ phát hiện ra một trong hai quả bom đã được kích hoạt ở chế độ "kẻ thù" và đang trong quá trình kích nổ. Rất may, mạch điện áp gặp sự cố đã khiến quả bom may mắn không phát nổ trên bầu trời Carolina, san bằng cả nước Mỹ chỉ trong tích tắc". Ông cho biết, mỗi quả bom hydro này có sức nổ 4 megaton, tương đương 4 triệu tấn thuốc nổ TNT, tức mạnh gấp 260 lần quả bom nguyên tử thả xuống Hiroshima năm 1945.

Dù sau đó, chính quyền Mỹ trấn an dư luận rằng hai quả bom này không thể nổ (trước đó còn họ nói, máy bay không mang bom), nhưng một báo cáo 8 năm sau của chuyên gia Parker F. Jones ở phòng thí nghiệm Sandia - nơi chịu trách nhiệm về các cơ chế an toàn của vũ khí hạt nhân, viết rằng "một công tắc chuyển mạch điện áp thấp đơn giản đã ngăn chặn thảm họa xảy ra cho nước Mỹ".

Ông phát hiện bốn công tắc an toàn ngăn không cho bom nổ ngoài ý muốn, thì cả ba cái đều bị lỗi, chỉ cái thứ tư là hoạt động. "Loại bom Mk 39 Mod 2 này không có cơ chế an toàn thích hợp trên máy bay B52", ông viết. Ông Jones từng là nhà khoa học có trách nhiệm trong việc thiết kế hệ thống khóa an toàn của bom nguyên tử nên ông nắm rất rõ việc lắp đặt cũng như kích nổ của quả bom. Ông Jones cho biết: "Quả bom được thả xuống Carolina đơn thuần chỉ là một giai đoạn kích nổ thất bại nhưng nó có ý nghĩa cực kỳ to lớn đối với nước Mỹ".

Nhiều chuyên gia phân tích, nếu quả bom nguyên tử không gặp trục trặc, chắc chắn vụ nổ bom nguyên tử sẽ biến nước Mỹ thành một Hiroshima thứ hai với sức hủy diệt khủng khiếp hơn nhiều lần và lịch sử nhân loại chắc chắn sẽ thay đổi. Khi đó, hàng triệu tính mạng người dân ở Washington, Baltimore, Philadelphia và thậm chí là cả ở New York sẽ bị đe dọa bởi bụi phóng xạ. Hiện tại, Chính phủ Mỹ chưa đưa ra những phản hồi chính thức khi tài liệu mật này được công bố.


Bức ảnh nổi tiếng về vụ nổ bom nguyên tử ở Hiroshima. 

Những mũi tên gãy
Tuy nhiên, đây không phải lần duy nhất Mỹ và các nước khác "hút chết" vì các sự cố liên quan đến vũ khí hạt nhân. Theo hồ sơ của cục Lưu trữ An ninh quốc gia Mỹ (NSA), kể từ năm 1950 đến nay, có ít nhất 32 vụ việc tương tự, chủ yếu xảy ra trong thập niên 1960. Các chuyên gia và giới quân sự dùng thuật ngữ "mũi tên gãy" để chỉ các sự cố liên quan đến vũ khí hạt nhân, dẫn đến tình trạng bất ngờ phóng, khai hỏa, kích nổ, mất cắp hoặc thất thoát vũ khí nguy hiểm.

Theo tài liệu của NSA, vụ thất lạc vũ khí hạt nhân đầu tiên trong lịch sử xảy ra ngày 13/2/1950 khi chiếc máy bay ném bom chiến lược Convair B-36B của không quân Mỹ gặp nạn tại thời điểm tham gia diễn tập tấn công trong điều kiện mùa đông. Chiếc máy bay từ căn cứ tại Alaska, chở một bom nguyên tử Mark IV, bị hỏng động cơ do đóng băng và buộc phải thả rơi rồi kích nổ bom trên không. Tuy chứa uranium và thuốc nổ thông thường nhưng do không có lõi plutonium nên quả bom chỉ gây ra một vụ nổ phi hạt nhân lớn gần British Columbia (Canada). Mỹ và Canada sau đó khẳng định không có rò rỉ phóng xạ trong khu vực. Chỉ 9 tháng sau, đến lượt một oanh tạc cơ B-50 do động cơ bị trục trặc đã vứt một quả bom Mark 4 xuống sông St. Lawrence gần Riviere-du-Loup, cách Montreal (Canada) khoảng 482km về hướng Đông Bắc. Quả bom nổ tung trong lúc va chạm và dù không có lõi plutonium, vụ nổ cũng thổi bay gần 45kg uranium chứa trong bom. Sau đó máy bay hạ cánh an toàn tại căn cứ không quân Mỹ ở Maine.

Đến năm 1956, xảy ra một sự cố nghiêm trọng hơn một chiếc B-47 đột nhiên mất tích "không sủi tăm" khi chở theo hai quả bom nguyên tử từ căn cứ không quân MacDill, bang Florida, đến một căn cứ nước ngoài. Liên lạc bị cắt khi máy bay đang trong vùng trời Địa Trung Hải và mọi nỗ lực tìm kiếm trong hàng chục năm qua đều kết thúc trong vô vọng đến tận ngày nay. Cùng năm, lại là máy bay B-47 gặp sự cố với vụ một oanh tạc cơ đâm vào cơ sở chứa vũ khí hạt nhân ở căn cứ không quân Lakenheath tại Suffolk (Anh) trong lúc diễn tập. Lúc đó, cơ sở này chứa đến ba quả bom Mark 6. Kết quả kiểm tra ban đầu cho thấy phép màu đã cứu nước Anh khi một quả bị nứt vỏ, lộ kíp nhưng lại không phát nổ.

Mỹ tiếp tục mất một quả Mark 15 nặng 3.400kg trong vụ va chạm chiến đấu cơ năm 1958. Trong lúc hạ cánh xuống căn cứ không quân Hunter tại bang Georgia, chiếc B-47 đụng phải một chiếc tiêm kích F-86. Tai nạn khiến chiếc B-47 buộc phải thả bom xuống vùng biển gần đảo Tybee. Rất may là không có vụ nổ nào và cũng không có thương vong, theo hãng tin UPI. Sau Anh và Canada, đến lượt Tây Ban Nha suýt "lãnh đủ" vì mũi tên gãy Mỹ và cũng do đụng máy bay. Theo AP, hồi tháng 1.1966, chiếc B-52 chở 4 quả bom nhiệt hạch đụng chiếc máy bay tiếp nhiên liệu KC-135 trên không và rơi gần Palomares, Tây Ban Nha, theo bộ Quốc phòng Mỹ. Hai quả bom không có lõi plutonium phát nổ, thải ra một lượng uranium và giới chức phải di dời hơn 1.400 tấn đất ở Palomares. Mỹ nhanh chóng thu hồi được quả bom thứ ba nhưng phải huy động hơn 20 tàu chiến, máy bay và mất nhiều tháng mới vớt được quả thứ tư.

Cũng theo tài liệu do tờ The Guardian công bố, ít nhất 700 tai nạn và sự cố "đáng kể" liên quan đến 1.250 vũ khí hạt nhân đã được ghi nhận từ năm 1950 đến năm 1968. Phóng viên Eric Schlosser chất vấn: "Thông tin này lâu nay luôn bị che giấu để tránh bị đặt câu hỏi về chính sách hạt nhân của Mỹ. Người dân Mỹ luôn được trấn an rằng sẽ không có chuyện vũ khí hạt nhân vô tình bị kích nổ, nhưng đây là bằng chứng cho thấy thảm họa chút nữa là xảy ra vì một chút sai sót".

Thứ Năm, 10 tháng 10, 2013

Giải mã lời nguyền đeo bám dòng họ Hemingway

Nhiều năm qua, các nhà nghiên cứu về Ernest Miller Hemingway đã cố giải mã hiện tượng tự sát phổ biến trong gia đình này.

Nhà văn Ernest Miller Hemingway được đánh giá là một nhân chứng kiệt xuất của thế kỷ 20. Những tác phẩm của ông không chỉ phản ánh thời đại mà theo một cách nào đó còn định hình thời đại. Thế nhưng, cuộc đời của ông, hay đầy đủ hơn là dòng tộc của Hemingway lại là một chuỗi dài thê lương.

Nhân vật kiệt xuất
Ernest Miller Hemingway (1899 - 1961) đã để lại ấn tượng sâu sắc đối với bạn đọc qua nguyên lý “tảng băng trôi”. Văn phong của ông được mô tả bởi sự kiệm lời nhưng có nhiều tầng ý nghĩa. Nhiều tác phẩm của ông hiện nay được coi là những tác phẩm kinh điển của nền văn học Mỹ.

Khi còn học ở trường trung học, Ernest Miller Hemingway đã bắt đầu viết văn và tham gia vào các hoạt động báo chí của trường. Năm 1917, ông rời trường trung học và tới Kan-xát làm phóng viên cho tờ báo Star.

Năm 1918, khi chưa tròn 19 tuổi, Hemingway bị thương nặng ở chân trong khi đang cõng một người lính I-ta-li-a mang tới địa điểm chỉ huy. Ông được chữa trị tại Bệnh viện Mi-lan và được thưởng huy chương anh dũng. Những trải nghiệm trong cuộc chiến này đã cung cấp cho ông những hiểu biết để viết nên tác phẩm "Giã từ vũ khí" (1929), một tiểu thuyết nổi danh nhất đề cập tới chiến tranh.

Chiến tranh Thế giới thứ hai kết thúc, Hemingway tiếp tục làm phóng viên cho báo chí Mỹ ở châu Âu, sống ở Pa-ri đến năm 1938. Việc tham gia cuộc nội chiến Tây Ban Nha và Thế chiến II sau đó đã để lại dấu ấn sâu đậm trong các sáng tác của Ernest Miller Hemingway.

Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, Hemingway trở lại Mỹ sống và tiếp tục viết văn. Năm 1950, Hemingway xuất bản cuốn sách "Qua sông và vào trong rừng "nhưng không gây dấu ấn với độc giả. Năm 1952, cuốn tiểu thuyết "Ông già và biển cả" đã mang lại ngôi vị cho ông trên văn đàn, giúp ông nhận được giải thưởng báo chí danh giá Pulitzer năm 1953. Năm 1954, Hemingway được viện Hàn lâm Thụy Điển trao tặng giải Nobel văn học vì thể văn mạnh mẽ dùng trong nghệ thuật kể chuyện mới lạ và thể hiện gần đây nhất qua tác phẩm "Ông già và biển cả".

Nhà văn Ernest Miller Hemingway.

Những năm cuối đời, Ernest Miller Hemingway dừng chân phiêu lãng, sống ở Cu-ba. Kết cục là một vụ tự sát khủng khiếp. Đó là một ngày chủ nhật đẹp trời như mọi ngày chủ nhật khác, Ernest Miller Hemingway dậy sớm, vào phòng làm việc, khóa cửa. Ông đặt báng của khẩu súng săn hai nòng trên sàn nhà, tựa trán mình lên họng súng và kéo cò. Nhân viên điều tra theo yêu cầu của gia đình không tiến hành khám nghiệm tử thi.

Cuộc đời, số phận, tình yêu của Ernest Miller Hemingway như một thiên tiểu thuyết gồm nhiều chương hồi hấp dẫn, bí ẩn và ly kỳ. Mỗi giai đoạn sáng tác của Ernest Miller Hemingway dường như gắn liền với hình bóng một người đàn bà được coi như một chất xúc tác tạo dựng nên những cuốn tiểu thuyết có đầy sức lôi cuốn, thuyết phục. Đó có thể là hình ảnh cô y tá nơi chiến trường khét lẹt mùi thuốc súng, chát chúa tiếng súng đạn, nàng phóng viên xinh tươi, năng động hay đơn giản chỉ là người bạn tâm thư. Câu chuyện tình đầu của Ernest Miller Hemingway diễn ra hấp dẫn trong bối cảnh của Thế chiến I. Ông bị thương nặng ở chiến trường, được một nữ y tá gốc Anh A-nét Vôn Ku-râu-xki lớn hơn tới sáu tuổi chăm sóc tận tình. Ernest Miller Hemingway yêu say đắm A-nét. Cô y tá cũng tỏ ra quyến luyến người lính trẻ dũng cảm có khiếu hài hước đó. Nhưng quan hệ của họ bị tan vỡ bởi Ernest Miller Hemingway phải quay trở về Mỹ.

Năm 1934, Ernest Miller Hemingway tình cờ gặp ca sĩ, diễn viên Ma-len Đi-trích trên một chuyến tàu biển. Trong thời gian quen biết nhau, họ đã trao đổi hơn 30 bức thư lời lẽ nồng nàn thương yêu. Trong khi, ngoài đời, họ chưa vượt quá giới hạn của sự quen biết, giữ mối quan hệ bằng niềm tin đẹp.

Câu chuyện tình thứ ba cũng là chuyện tình bí ẩn nhất của Hê-ming-uây mới giải đáp được. Cha của Ernest Miller Hemingway vốn rất mong muốn có con gái, nên thường gọi ông là Ơ-nét-tin và cho Hemingway vận y phục con gái. Vì thế sau này, người ta thấy trong một số các tác phẩm của Ernest Miller Hemingway có mang dấu ấn của sự rối loạn giới tính và khủng hoảng quan hệ nam nữ. Tháng 4/1925, Hemingway gặp nhà văn danh tiếng F. Xcốt Phít-giê-ran. Họ trở nên tâm đầu ý hợp, thường xuyên đối ẩm, trao đổi bản thảo. Từ sự thân mật không có gì vẩn đục này, hoàn toàn trong trắng, dư luận bên ngoài đã ác ý đồn đại rằng, Hemingway có những vấn đề giới tính.

Ernest Miller Hemingway kết hôn 4 lần. Người vợ đầu Ê-li-da-bét Hát-li Ri-chát-sơn sinh cho ông cậu con trai Giôn Hát-li Ni-ca-no (1923-2000). Năm 1926, Hemingway bước vào cuộc phiêu lưu tình cảm mới. Đối tượng của Ernest Miller Hemingway là Pô-lin Phây-phơ, một người đàn bà Mỹ trẻ trung, giàu có, ái nữ của một nhà nông nghiệp, chủ hãng bia ở A-kan-xát. Pô-lin làm biên tập viên cho tạp chí thời trang. Hai chị em cô thường lui tới nhà Hemingway. Pô-lin đã tỏ ra sắc sảo trước một Ê-li-da-bét khiêm nhường bởi luôn bận bịu các mối lo gia đình. Ernest Miller Hemingway không tự chủ được mình trước sự quyến rũ của một người đàn bà đẹp lộng lẫy như Pô-lin. Kết cục, người vợ thứ hai - Pô-lin sinh cho Hemingway hai người con trai, Pa-trích Hê-ming-uây và Grê-gô-ri Hê-ming-uây (1931-2001).

Pô-lin đã cố tạo một tổ ấm cho ông chồng đào hoa, danh tiếng bằng cách chịu chi tiền để tạo dựng một nội thất đỉnh cao. Thế nhưng, con người Ernest Miller Hemingway luôn khát vọng sự cố. Tháng 9-1931, trong chuyến đi Niu Y-oóc, Ernest Miller Hemingway làm quen đôi vợ chồng Giăng và Gran May-sơn trẻ trung và giàu có. Khi đó Giăng 22 tuổi đang rực rỡ với một nhan sắc in đậm nét cổ điển. Giăng cũng như không ít phụ nữ khác đã lập tức mê đắm Hemingway. Pô-lin không tránh khỏi lo lắng theo dõi sự phát triển của mối tình này. Tuy nhiên, người làm Hemingway ra đi vào năm 1940 không phải Giăng mà là Ma-tha Gen-hon. Ma-tha Gen-hon không sinh con. Người vợ thứ tư cũng là người vợ cuối cùng cưới ngày 14-3-1945, Hemingway quen biết từ lâu, nhưng khi dời sang Cu-ba sinh sống mới chính thức kết hôn.

Ernest Miller Hemingway đa tình nhưng tình cảm dành cho các bà vợ đều chân thành, sâu đậm, thương yêu hết mực.

“Lời nguyền dòng họ Hemingway”
Năm 29 tuổi, khi vừa mới tập tễnh bước lên con đường văn chương Ernest Miller Hemingway đã phải chịu cú sốc đầu tiên. Bố ông tự sát vì một lý do rất khó hiểu.

Ngày 2-7-1961, trong tâm trạng quá thất vọng và bế tắc, Hemingway đã dùng khẩu súng săn đã cùng ông đi khắp thế giới để tự sát.

5 năm sau cái chết của Hemingway, em gái của ông là Mên-lan Min-lơ Hê-ming-uây do mắc bệnh ung thư và chứng trầm cảm đã uống thuốc ngủ tự sát.

16 năm sau đó, người anh em duy nhất của Hemingway là Lai-xét-tơ cũng tự sát sau khi biết mình mắc phải bệnh tiểu đường và phải cắt chân.

Không chỉ vậy, ngay cả những thế hệ tiếp theo trong dòng họ Hemingway cũng không thể thoát khỏi tấn bi kịch của những người đi trước. Con trai cả của Ernest Miller Hemingway là Giắc Hê-ming-uây do cuộc sống hôn nhân gặp phải nhiều trắc trở, nên thường xuyên mượn rượu giải sầu, vợ của ông đã chết vì bệnh ung thư.

Nữ nghệ sĩ Ma-gô Hê-ming-uây chết trong căn hộ của mình do dùng thuốc quá liều. Ảnh tư liệu. 


Năm 1996, đúng một ngày trước Lễ kỷ niệm 35 năm ngày mất của Ernest Miller Hemingway, người ta tìm thấy cháu nội của ông, nữ nghệ sĩ Ma-gô Hê-ming-uây chết trong căn hộ của mình do dùng thuốc quá liều. Kết luận của cảnh sát cho thấy đây cũng là một vụ tự sát. Khi ấy, Ma-gô mới 41 tuổi và đang khá nổi danh. Người ta không thấy bất cứ nguyên nhân nào khiến cô phải tìm đến cái chết. Và cũng như tất cả những vụ tự sát trước đây trong gia đình Hê-ming-uây, thủ phạm được cho là một lời nguyền thần bí.

Theo những lời đồn đại, chính vì lời nguyền bí ẩn kia mà dòng họ Hemingway phải trả lại cho tạo hóa tất cả những con người tài năng nhất mà họ đã sinh ra. Một câu chuyện đã từng được đăng trên Tạp chí Time còn kể lại rằng, vào ngày sinh nhật lần thứ 21 của Hemingway, mẹ ông đã làm cho con trai một chiếc bánh kem thật đẹp và nhét vào trong đó khẩu súng mà cha ông đã dùng để tự sát.

Giải mã bí ẩn
Nhiều năm qua, các nhà nghiên cứu về Hemingway đã cố giải mã hiện tượng tự sát phổ biến trong gia đình này. Trước đây, có ý kiến cho rằng một số con cháu đằng nội của dòng họ này bị di truyền chứng nhiễm sắc tố sắt (heamochromatosis). Người bị bệnh này có hàm lượng sắt trong máu vượt quá mức bình thường gây tổn thương tuyến tụy, trầm cảm, mất cân bằng não bộ có thể dẫn đến tự sát. Tuy nhiên, một nghiên cứu mới đây lại cho rằng, thủ phạm gây ra những vụ tự sát trong gia đình Hemingway là một hiện tượng tâm lý rất phổ biến trong xã hội hiện đại. Đó là Copycat, hay hiện tượng bắt chước mù quáng. Nạn nhân thường là thanh thiếu niên hoặc những người có tâm hồn nhạy cảm, dễ xúc động. Những người nhiễm Copycat bị ấn tượng rất mạnh trước những quyết định của những người mà họ yêu quý, tôn sùng, ngay cả khi đó là quyết định tìm đến cái chết. Và khi có điều kiện thuận lợi, họ sẽ bắt chước lại y hệt như vậy.

Thế giới đã từng biết đến những vụ tự sát hàng loạt bắt chước theo thần tượng âm nhạc người Mỹ Cuốc Cô-bên hay ca sĩ, nhạc sĩ người Nhật Hi-đê. Chuyện tương tự có thể cũng xảy ra với gia đình Hemingway. Em trai, em gái và cháu nội của Hemingway đều là những nghệ sĩ và chịu nhiều ảnh hưởng của ông. Do đó rất có thể việc tự sát của họ cũng là một dạng bắt chước mù quáng.

Thứ Tư, 9 tháng 10, 2013

Chuyện đáng sợ về “hồn ma của người đang sống“

Dù nhiều người cho rằng đó chỉ là ảo giác, lịch sử đã ghi lại một số câu chuyện đáng sợ về các Doppelganger - tức "hồn ma của một người đang sống".

Truyền thuyết kể lại rằng, doppelganger là một bản sao huyền bí của một người vẫn đang còn sống. Những hồn ma này có thể xuất hiện dưới nhiều hình thức: Bạn có thể thấy chúng hiện ra trước mắt, gặp chúng trên một con đường hiu quạnh nào đó, hoặc đáng sợ hơn là đôi lúc bạn có thể bắt gặp những hồn ma này đang đứng phía sau mình khi nhìn vào gương. Đôi lúc một người không thể thấy được doppelganger của chính mình, nhưng những người khác có thể thấy được nó tại một địa điểm hoàn toàn khác.

Có khá nhiều cách giải thích cho hiện tượng hồn ma của một người đang sống này. Câu chuyện xuyên suốt mọi thời đại đều cho rằng doppelganger là những thực thể siêu nhiên, bản sao linh hồn của một người, hoặc là anh/chị/em song sinh ma quỷ của người đó. Mặt khác, theo các nhà khoa học, những hồn ma này đơn thuần chỉ là do một số trục trặc trong điện não, hoặc là bệnh thần kinh như bệnh tâm thần phân liệt. Tuy nhiên, dù được giải thích theo cách nào đi chăng nữa, có hai điều có thể chắc chắn về doppelganger: (1) chúng thường mang đến điềm xấu, (2) rất nhiều nhân vật tiếng tăm trong lịch sử đều đã bị chính doppelganger của mình ám ảnh.

Johann Wolfgang von Goethe
Johann Wolfgang von Goethe (1749-1832) là một đại thi hào văn học, và là chính trị gia nổi tiếng của Đức.

Một ngày nọ, sau khi chia tay với một cô gái có tên Frederika, Goethe buồn bã cưỡi ngựa đi trên một con đường đi bộ. Bất chợt ông nhìn thấy một người bí ẩn đang cưỡi ngựa tiến về phía mình. Người đó không ai khác chính là Goethe nhưng lại mang trang phục hoàn toàn khác. Hình ảnh này biến mất ngay sau đó và Goethe nhanh chóng quên về nó.

8 năm sau, Goethe lại cưỡi ngựa trên con đường đi bộ năm xưa theo hướng ngược lại (cũng để gặp lại Frederika). Và đó cũng là lúc ông nhận ra rằng mình đang mang trang phục y hệt của “người giống mình” mà ông đã thấy 8 năm trước.

Đây không phải là lần duy nhất Goethe nhìn thấy một doppelganger. Có lần, ông bắt gặp một người bạn, Friedrich, đi dạo trên phố và mang áo choàng của ông. Ông về nhà ngay sau đó và thấy Friedrich đang ở nhà mình và mang cái áo choàng y hệt những gì ông đã thấy trên đường phố. Người bạn này đã bị dính mưa và vào để mượn áo của Goethe.

Catherine Đại đế





Catherine Đại đế là vị nữ hoàng đầy quyền lực và là một nhân vật nguy hiểm của Nga vào thế kỉ 18. Bà không hề sợ sệt trước những chuyện như việc nhìn thấy doppelganger của mình tiếp quản vương miện.

Truyện kể lại rằng, một đêm, nữ hoàng Catherine đang nằm nghỉ thì 2 cô hầu gái bảo rằng họ vừa mới trông thấy bà vào phòng thiết triều. Bà đã đến điều tra sự việc ngay sau đó, và bắt gặp chính mình đang điềm tĩnh ngồi trên ngai vàng. Nữ hoàng ngay lập tức lệnh cho lính gác bắn “hồn ma” này. Không ai nhắc gì đến chuyện doppelganger của nữ hoàng Catherine có bị ảnh hưởng bởi viên đạn đó không; nhưng vị nữ hoàng này đã qua đời một thời gian không lâu sau đó.

Percy Bysshe Shelley



Percy Bysshe Shelley là một nhà thơ sáng giá, nhưng thường được nhớ đến với tư cách là chồng của Mary Shelley (tác giả cuốn tiểu thuyết Frankenstein). Mặc dù Marry Shelly, tác giả của những tiểu thuyết kinh dị, thường được cho là đã nhìn thấy ma quỷ, nhưng chính Percy mới là người đã chứng kiến được những doppelganger.

Một thời gian không lâu trước khi bị chết đuối trong một vụ tai nạn hàng hải năm 1812, Percy đã thừa nhận với vợ rằng ông đã rất nhiều lần nhìn thấy hồn ma của mình. Một trong những trải nghiệm ám ảnh này là lúc Percy bước lên thềm và được doppelganger của mình chào đón và hỏi: “Ông định mãn nguyện như thế này trong bao lâu nữa?”

Hồn ma của Percy cũng được một người bạn thân – Jane Williams – nhìn thấy khi đang đi qua cửa sổ phòng cô (con đường mà Percy thật thường đi) và đến mỗi ngõ cụt, nhưng không bao giờ thấy quay trở lại.

Nữ hoàng Elizabeth I



Nữ hoàng Elizabeth I (trị vì Anh Quốc từ năm 1558-1603) nổi tiếng là một nữ quốc vương am tường, bình tĩnh và có uy tín. Bà là người chẳng bao giờ muốn dính líu với những hiện tượng siêu nhiên. Tuy nhiên, Nữ hoàng Elizabeth I đã nhìn thấy doppelganger của mình nằm bất động trên giường y hệt một thi hài. Và điều này đã trở thành một nổi ám ảnh lớn vì nó mang đến dấu hiệu của tử thần. Tuy nhiên, điều này cũng có thể chỉ là do một trục trặc tạm thời của điện não, nếu không vì một thực tế rằng Nữ hoàng Elizabeth I đã mất không lâu sau khi nhìn thấy doppelganger của mình.

Abraham Lincoln



Một đêm sau cuộc tuyển cử đầu tiên của mình, trong khi đang nằm nghỉ trên giường, tổng thống Abraham Lincoln bất chợt liếc qua gương và nhìn thấy khuôn mặt mình. Có điều, trong gương ông có đến 2 khuôn mặt. Một Lincoln nhợt nhạt và ma quái đặt cạnh khuôn mặt thật đang nhìn vào ông từ trong gương. Ngài tổng thống bật dậy khỏi giường và doppelganger biến mất; nhưng khi ông nằm xuống, hồn ma này lại xuất hiện.

Bà Mary vợ ngài sợ rằng doppelganger này sẽ mang lại điều không may cho cuộc tái bầu cử của ông. Tổng thống Lincoln sau đó quyết định nhìn kỹ vào hồn ma của mình một lần nữa, nhưng kể từ đó nó không xuất hiện lại. Có lẽ bởi vì nó đã chuyển được thông điệp của mình, bởi tổng thống Arabham Lincoln đã thất bại trong nhiệm kì thứ 2 của ông.

Guy de Maupassant



Nhà văn pháp Guy de Maupassant nổi tiếng với những trải nghiệm khá thân mật với hồn ma của mình. Doppelganger này không chỉ nói chuyện mà còn kể cho nhà văn một câu chuyện; và Maupassant đã thừa nhận một trong những câu chuyện cuối đời của ông thực chất được viết bởi hồn ma của mình.

Câu chuyện “The Horla” nhà văn này được kể là một câu chuyện não nề, về lương tri một người dần bị linh hồn quỷ dữ ăn mòn và xem người này là “vật chủ”. Và kể từ đó, sức khỏe tinh thần của Maupassant bắt đầu trở nên suy sụp.

Trở lại vài tháng sau khi biến mất, doppelganger này bước vào phòng của Maupassant, nhìn ông với khuôn mặt buồn bã và tuyệt vọng. Một năm sau đó, nhà văn này qua đời trong một bệnh viện tâm thần.

Emilie Sagee



Emilie Sagee từng làm việc tại một trường nữ sinh. Là một giáo viên tốt nhưng vì một lý do nào đó mà Emilie luôn đổi việc. Chỉ trong vòng 16 năm, cô đã phải nhảy việc đến 19 lần.

Năm 1845, phía nhà trường mới bắt đầu phát hiện được lý do cho sự kì lạ này. 13 học sinh đã chứng kiến hồn ma của Emilie đứng cạnh cô trong suốt buổi học và phản chiếu lại những bước đi của cô. Lần sau, bóng ma này lại đứng phía sau khi cô đang ăn, và cô không hề hay biết về sự xuất hiện này mặc dù tất cả mọi người đều có thể nhìn thấy nó rất rõ ràng. Tuy nhiên, mỗi lần hồn ma này xuất hiện, Emilie đều trông mệt mỏi và không có sức lực.

Có lần, doppelganger của Emilie xuất hiện trong lớp học và ngồi điềm tĩnh trên ghế trong khi chính Emilie thật vẫn đang làm vườn. Một vài người liều tiến lại gần bóng ma này, nhưng lại phát hiện họ có thể đi xuyên qua nó.

Theo thời gian, bóng ma Emilie đã trở nên khá quen thuộc trong cuộc sống nhà trường, tuy nhiên, nó vẫn khiến nhiều người hoảng sợ. Chính vì vậy, phụ huynh học sinh quyết định chuyển trường cho con mình. Và mặc dù luôn là một giáo viên gương mẫu, hiệu trưởng nhà trường buộc phải sa thải Emilie và hồn ma của cô.

Thứ Hai, 7 tháng 10, 2013

Những trò lừa bịp hay ho nhất thế kỷ

Có những cú lừa khiến dư luận đi từ ngạc nhiên này tới ngạc nhiên khác, tuy nhiên, không phải lúc nào những cú lừa này cũng qua mắt được dư luận…

Bức ảnh em bé Hitler
Năm 1933, một bức ảnh em bé với khuôn mặt cau có được đăng tải rộng rãi trên khắp mặt báo Mỹ và Anh Quốc với tên gọi “Bức ảnh em bé Hitler”. Khuôn mặt cau có của em bé nhìn có vẻ rất… ngốc nghếch và Hitler đã rất tức giận và cho rằng mình đang bị báo chí xúc phạm.



Các sĩ quan Đức bèn gửi một tấm ảnh thật thời thơ ấu của Hitler như một lời đáp trả giận dữ. Trong tấm ảnh này, “em bé” Hitler có vẻ ngoài khá lanh lợi và đáng yêu như các em bé khác. Sau đó, chính phủ Đức đã yêu cầu truy tìm người tung ra bức ảnh. Các báo cho biết, bức ảnh tới từ Australia nhưng họ không thể nào tìm được người đăng ảnh. Cậu bé trong bức ảnh giả thực ra là người Mỹ nên khả năng nguồn gốc bức ảnh thực sự là ở Mỹ. Bức ảnh cũng đã được chỉnh sửa để gương mặt em bé có vẻ giận dữ “đúng chất” Hitler.

Câu chuyện lừa bịp của nữ tu Maria
Vào tháng 1/1836, một nữ tu tên là Maria Monk xuất bản một cuốn sách có tên là "Những tiết lộ khủng khiếp của Maria Monk" về thời gian cô bị giam hãm trong tu viện Dieu tại Montreal, Canada.

Cuốn sách miêu tả một loạt sự việc kỳ quái, ghê rợn bao gồm các lễ tế người chết, lạm dụng sức lao động, sát hại trẻ em và đặc biệt là một chiếc mũ da có tên gọi "the cap" có khả năng gây đau đớn cho người đội một cách bí ẩn.



Khi Maria phát hiện mình có thai, cô đã trốn khỏi tu viện vì lo sợ mình sẽ chết do lao động quá sức. Cô đã viết cuốn sách để kể lại những sự việc trong đời mình. Thế nhưng, toàn bộ sự việc là một trò lừa bịp, gây ra bởi Monk và một số người đàn ông nữa nhằm bôi nhọ đạo Thiên Chúa giáo thời đó. Sự thật đã được đại tá William Leete Stone, một biên tập viên của tờ New York city phát hiện. Ông đã tới tu viện Dieu và phát hiện ra rằng câu chuyện của Maria Monk hoàn toàn là bịa đặt. Mất hết danh dự, Maria đã dành phần còn lại của cuộc đời mình trong cảnh nghèo đói, mất trí và chết trong tù vào năm 1849.

Máy chế tạo vàng từ nước biển
Năm 1897, Prescott Ford Jernegan, cùng với cộng sự của mình là Charles Fisher đã đến Lubec, Maine và thông báo với công chúng rằng ông đã có một phát minh đáng kinh ngạc. Ông tuyên bố rằng, mình sở hữu một loại máy có thể tách vàng từ nước mặn ở bất cứ nơi nào gần biển như Lubec.



Một số nhà đầu tư đã đầu tư hàng ngàn đô-la Mỹ cho 2 "nhà khoa học" này để thành lập công ty Điện phân muối biển. Các hộp thí nghiệm được đặt trong nước và Fisher sẽ lặn xuống nước và bỏ vào hộp một lượng vàng nhỏ để đánh lừa các nhà đầu tư rằng họ đang "làm việc". Jernegan và Fisher chạy trốn vào ngày 29/7/1897, và từ đó không ai còn nghe tới Fisher nữa. Jernegan cuối cùng đã tiết lộ danh tính và trả lại một phần số tiền ông đã lấy năm xưa, và ông cũng may mắn khi không bị truy tố.

Máy tạo chuyển động vĩnh cửu Redheffer
Năm 1812, một người tên là Charles Redheffer đến Philadelphia và tuyên bố đã phát minh ra một máy chuyển động vĩnh cửu. Ngày nay, chúng ta đã biết không thể tạo ra một máy chuyển động vĩnh cửu vì nó sẽ vi phạm các quy luật về nhiệt động học. Tuy nhiên, vào năm 1812, khoa học chưa nhận ra điều này. Mọi người đổ xô tới xem chiếc máy "thần kỳ" của Redheffer. Thậm chí, Redheffer còn cá rằng không ai có thể giải mã được chiếc máy bí ẩn của ông. Các nhân viên chính phủ cũng không phát hiện ra sự thật, cho đến khi một người đàn ông đã làm một bản sao chiếc máy của Redheffer và lừa ông ta rằng máy của ông ta là giả.



Ông bị buộc phải chuyển nơi ở đến New York và lại một lần nữa lừa bịp thành công người dân ở đây cho đến khi Robert Fulton, một kỹ sư và nhà phát minh người Mỹ nổi tiếng phanh phui sự thật rằng, "chuyển động vĩnh cửu" của Redheffer thực ra là một hệ thống ròng rọc được điều khiển bởi một ông già trong căn phòng khóa kín trên gác.

Cú lừa Psalmanazar
Năm 1702, một người đàn ông tên là George Psalmanazar, chuyên sống bằng cách bịa chuyện để lừa đảo người khác, đã gặp một linh mục người Scotland và kể cho anh ta một câu chuyện kỳ dị về vùng đất của Formosa (bây giờ là Đài Loan).



Psalmanazer tự nhận mình là một công dân tại Formosa và thêu dệt nên rất nhiều câu chuyện kỳ quái làm say lòng linh mục. Hai người quyết định cùng nhau tới London để kể lại những sự việc kinh hoàng tại Formosa, như chế độ đa thê, ăn thịt người và thậm chí là giết trẻ em. Psalmanazar còn tự nhận mình sống trong tầng lớp quý tộc dưới lòng đất nên có nước da sáng.

Năm 1704, anh ta xuất bản một cuốn sách về các sự kiện trên và cuốn sách này đã bán rất chạy. Tuy nhiên sau đó người ta phát hiện ra Psalmanazar nói dối và không mua sách của anh ta nữa. Psalmanazar sau đó chẳng những không bị phạt mà còn trở thành một nhà thần học... uy tín.

Chủ Nhật, 6 tháng 10, 2013

5 xác chết “quái đản” nhất hành tinh

Cho đến nay, sự thực về xác quái vật Kitchenuhmaykoosib hay xác ướp tí hon trên núi San Pedro...vẫn là câu hỏi lớn với nhân loại.

1. Xác ướp công chúa Ba Tư
Vào ngày 19/10/2000, chính quyền Balochistan, Pakistan nhận được tin báo về một người đàn ông có tên Ali Aqbar và một cuốn băng video cho thấy một xác ướp có từ thời cổ đại. Xác ướp này đang được rao bán ở thị trường chợ đen với giá 20 triệu USD. Sau khi bị bắt giữ, Aqbar đã dẫn cảnh sát đến nhà của Wali Mohammed Reeki ở Kharan, gần biên giới với Afghanistan. Khi đó, Reeki khai với cảnh sát rằng, ông có được xác ướp trên từ một người đàn ông Iran Sharif Shah Bakhi. Bakhi đã tìm thấy nó sau khi xảy ra một trận động đất gần Quetta.
Trong một cuộc họp báo ngày 26/10/2000, các nhà khảo cổ học thuộc Đại học Quaid-e-Azam ở Islamabad đã thông báo rằng xác ướp trên có khả năng là thi hài của một công chúa sống vào khoảng năm 600 trước công nguyên.

Xác ướp trên được chôn cất trong một chiếc quan tài bằng gỗ, trên đầu gắn miện vàng, in hình bảy cây bách, biểu tượng của Thủ đô Hamadan, Ba Tư cổ đại (Iran). Trên ngực xác ướp đeo một chiếc khánh vàng với dòng chữ: “Tôi, con gái của Xerxes, vị Hoàng đế vĩ đại. Tôi là Ruduamna”. Khi đó, xác ướp công chúa Ba Tư được coi là một phát hiện khảo cổ lớn. Chính phủ Iran lẫn Pakistan đều tranh giành nhau quyền sở hữu xác ướp đặc biệt này.

Kể từ khi phát hiện xác ướp công chúa Ba Tư, nhiều nhà khảo cổ học đã lao vào điều tra, tìm hiểu. Họ nhanh chóng phát hiện ra những dòng chữ khắc trên khánh đeo cổ của Công chúa Ruduamna bị viết sai ngữ pháp. Giáo sư Pakistan Ahmad Dani nghiên cứu xác ướp trên và chỉ ra rằng, thi thể đó không nhiều tuổi như chiếc quan tài. Từ đó, ông đưa ra kết luận, đó không phải là xác ướp công chúa Ba Tư mà chỉ là thi thể của một người phụ nữ hiện đại tầm 21-25 tuổi. Người này qua đời khoảng năm 1996 và bị hung khí không sắc nhọn lắm đâm vào cổ dẫn đến mất mạng.
Đến ngày 5/8/2005, người ta thông báo rằng, thi thể trên sẽ được chôn cất. Tuy nhiên, đến năm 2011, xác ướp giả mạo công chúa Ba Tư vẫn chưa được mai táng do sự chậm trễ và quan liêu của cơ quan chức năng.
2. Quái vật Kitchenuhmaykoosib

Vào ngày 8/5/2010, hai người phụ nữ đang đi bộ trong vùng lân cận hồ Big Trout ở tây bắc Ontario, Canada thì tình cờ phát hiện xác chết một động vật có vú nhỏ với chiều dài cơ thể khoảng 0,3m. Họ lấy máy ảnh chụp lại hình sinh vật kỳ lạ này rồi nhanh chóng rời khỏi nơi đó.

Sau đó, người ta đem phân tích hình ảnh mà hai người phụ nữ trên đã chụp được và nhận thấy sinh vật kỳ lạ đó có một số đặc điểm khuôn mặt kỳ lạ. Các chuyên gia đã đem so sánh nó với một con heo rừng. Cụ thể, sinh vật trong ảnh có răng nanh dài, đuôi giống chuột. Hình dạng cơ thể của xác chết nhìn khá giống một con rái cá. Vài ngày sau khi nhìn thấy xác chết sinh vật lạ này, hai người phụ nữ quyết định quay lại chỗ cũ để nhặt xác con vật bí ẩn trên. Tuy nhiên, xác chết đó đã biến mất.
Khi đó, một số người đã đem so sánh nó cới quái thú huyền thoại Omajinaakoos vì có một số điểm tương đồng. Theo văn hóa dân gian của một số bộ lạc người Mỹ bản địa sống ở miền Trung Canada, Omajinaakoos là một sinh vật vô cùng hiếm gặp. Nó thường sống trong các suối và các khu vực đầm lầy thuộc Canada. Một số truyền thuyết nói rằng, nếu ai đó nhìn thấy xác chết quái thú Omajinaakoos thì đó là điềm báo của sự bất hạnh.
Trong khi đó, một số khác lại cho rằng sinh vật huyền bí trong ảnh của hai phụ nữ trên là xác một con chồn Mỹ đang bị phân hủy. Giả thuyết trên nhanh chóng gặp phải làn sóng phản đối của nhiều người. Bởi lẽ, họ giải thích rằng, con vật đó không có lông xung quanh mặt. Từ đó cho đến nay, người ta vẫn chưa tìm ra chân tướng sự thật về xác chết kỳ lạ này.

3. Vụ án Taman shud

Vào ngày 1/12/1948, người ta phát hiện một thi thể ở bãi biển Somerton, Adelaide, Australia. Cơ quan chức năng không thể xác định được danh tính nạn nhân vì không thể nhận dạng được. Sau khi khám nghiệm tử thi, các chuyên gia xác định đó là thi thể nam giới Anh tầm 40 - 45 tuổi. Người này cao khoảng 1,8m và ăn mặc chỉnh tề với áo sơ mi trắng, thắt cà vạt, quần màu nâu, chân đi giày... Tất cả nhãn mác trên quần áo hay giầy đều không còn.

Các nhân viên điều tra không thể xác định danh tính hoặc nguyên nhân dẫn đến cái chết của người đàn ông bí ẩn này. Trong quá trình điều tra, họ đã phát hiện một mảnh giấy nhỏ với dòng chữ "Tamam shud”. Điều đặc biệt là mẩu giấy được khâu kín trong túi quần người đã chết.
Cụm từ trên có nghĩa là "chấm dứt" hoặc "kết thúc" và đây là cụm từ được dùng trong trang cuối của tuyển tập thơ “The Rubaiyat” của Omar Khayyam. Người ta lại thấy vụ án trên càng bí hiểm hơn sau khi phát hiện thêm một phiên bản thơ của Khayyam có chứa mật mã viết nguệch ngoạc mà người chết để lại.

4. Quái vật Montauk

Tháng 7/2008, người ta phát hiện xác quái vật Montauk trôi dạt vào bờ gần khu kinh doanh ở Montauk, New York, Mỹ. Một phụ nữ có tên Jenna Hewitt 26 tuổi và 3 người bạn khác sống ở Montauk đã tìm thấy sinh vật bí ẩn trên ở gần bãi biển Ditch Plains. Nó trông gần giống một con chó nhưng không có lông, răng chắc và có vẻ như có mỏ.

Kể từ khi đó, quái vật Montauk đã trở thành chủ đề tranh luận sôi nổi của các học giả, những người quan tâm cũng như giới truyền thông Mỹ. Trong khi đó, các chuyên gia về động vật lại có nhiều ý kiến không đồng nhất về quái thú kỳ lạ này.

Một bức ảnh về quái vật Montauk được công bố trên website buôn chuyện nổi tiếng ở New York Gawker và được giật với tít “Quái vật chết trôi dạt vào Montauk”.
Một số người phỏng đoán đó có thể là một con rùa biển hay một sinh vật bị đột biến trong quá trình thử nghiệm của Trung tâm Bệnh động vật ở đảo Plum. Một số người lại cho rằng đó là xác một con gấu trúc bị mất hàm răng trên.

Số khác lại suy đoán đó có thể là một con chuột nước hay xác một con chó bị phân hủy do tiếp xúc lâu với nước biển.
Vào ngày 14/3/2011, kênh truyền hình National Geographic của Mỹ đã phát sóng một chương nói về quái vật Montauk. Theo chương trình này, sinh vật bí ẩn trên là một con gấu trúc.
5. Xác ướp tí hon trên núi San Pedro
Tháng 10/1932, hai công nhân thăm dò có tên Cecil Mayne và Frank Carr đã phát hiện ra một căn phòng kỳ lạ trong khi nổ mìn để tìm kiếm mỏ vàng ở núi San Pedro. Ngọn núi này cách Casper, Wyoming khoảng 60 dặm về phía tây nam. Sau khi vào bên trong căn phòng mới phát tích đó, các thợ mỏ vô cùng ngạc nhiên khi thấy xác ướp một người đàn ông tí hon. Xác ướp này ngồi vuông góc với sàn nhà và tọa lạc trên một mỏm đá nhỏ nặng khoảng 340 gram. Khi ngồi, xác ướp cao khoảng 0,17 m và nếu đứng sẽ cao khoảng 0,35 m. Da có màu nâu và nhăn nheo, mũi khá bằng phẳng, miệng rộng và có đôi môi mỏng.

Xác ướp trên được bảo quản rất tốt, đến nỗi người ta vẫn còn nhìn thấy cả những chiếc móng tay. Ngay sau đó, các chuyên gia đưa xác ướp về nghiên cứu và đặt tên cho nó là Pedro - tên địa điểm phát hiện xác ướp. Trong năm 1950, sau khi kiểm tra X-quang, người ta phát hiện xương cột sống, xương đòn, xương sọ bị vỡ nát và xuất hiện nhiều chấn thương nghiêm trọng khác. Đặc biệt, khối máu đông ở trên đỉnh đầu của người đàn ông tí hon trên chứng tỏ người này đã chết trong đau đớn.
Khi đó, theo nhà nhân chủng học thuộc Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên - tiến sĩ Henry Shapiro, tại thời điểm qua đời, xác ướp khoảng 65 tuổi. Thêm vào đó, những chiếc răng nanh còn sót lại của người này gần giống răng của ma cà rồng. Trong những năm 1950, những kết luận trên cũng được Đại học Harvard xác nhận.
Tuy nhiên, 30 năm sau, Tiến sĩ George Gill là một nhà nhân chủng học pháp y đã đưa ra một giả thuyết khác. Ông cho rằng đó là thi thể một trẻ sơ sinh thuộc một bộ lạc chưa được biết đến ở Ấn Độ. Kể từ đó đến nay, người ta vẫn chưa tìm ra lời giải hợp lý về xác ướp tí hon bí ẩn này.

Thứ Năm, 3 tháng 10, 2013

Những truyền thuyết kỳ quái trong rừng rậm Amazon

Amazon là khu rừng rậm nhiệt đới lớn và bí ẩn nhất trên thế giới. Đây là nơi sinh sống của hàng trăm ngàn loài động, thực vật bí hiểm và luôn kích thích trí tò mò của những người ưa khám phá.

Cùng dạo qua những bóng cây già và tìm hiểu những truyền thuyết lạ kỳ về động vật - thực vật trong khu rừng đầy cảm hứng này dưới đây.

1. El Tunchi - linh hồn bảo vệ rừng già
Nếu như người Á Đông có truyền thuyết về những vị thần rừng thì với thổ dân Amazon lại tôn thờ, kinh sợ El Tunchi - linh hồn của rừng núi. Trong truyền thuyết, El Tunchi không hình không dáng, đó là linh hồn của những người đã qua đời trong rừng rậm. El Tunchi bảo vệ rừng núi và sẽ trừng phạt tất cả những ai có ý định phá hoại rừng.



Người ta kể rằng, El Tunchi hiện diện bằng những tiếng huýt sáo liên tục và to dần, chỉ xuất hiện ở nơi có kẻ phá hoại rừng mà thôi. Nếu những kẻ này huýt sáo bắt chước lại, El Tunchi sẽ xuất hiện và giết chết chúng.

El Tunchi không có hình thù xác định, chỉ đơn giản là những linh hồn bảo vệ rừng núi.

2. La Lupuna - loài cây biết nguyền rủa
La Lupuna là tên gọi những cây cổ thụ lớn trong rừng Amazon. Trong văn hóa địa phương, đây là những cây thần sở hữu những đặc tính kỳ diệu, có khả năng nguyền rủa bất cứ ai xâm phạm rừng già hoặc xúc phạm chúng. Cũng vì thế La Lupuna còn được mệnh danh là cây phù thủy.

La Lupuna có vòm lá cao rộng và lớn...

... cùng bộ rễ cây khổng lồ trồi hẳn lên mặt đất.

Tương truyền, bất cứ ai xâm phạm vào lãnh địa của cây như đi tiểu vào gốc cây đều sẽ bị nguyền rủa. Nạn nhân sẽ bị sưng dạ dày rồi vỡ ruột mà chết. Người ta còn đồn rằng, để hãm hại một người chỉ cần vứt quần áo, đồ đạc của người ấy vào gốc cây. Bởi điều này không khác gì chủ nhân của bộ quần áo đó đang quấy nhiễu La Lupuna cả.


La Lupuna mang theo mình lời nguyền kinh hãi cho những ai xâm phạm cấm địa.

Không những vậy, nhựa cây của La Lupuna còn chứa chất kịch độc, chúng thường được các phù thủy sử dụng để bào chế độc dược.

3. El Chullachaqui - người giám hộ rừng tinh ranh

Giống như El Tunchi, El Chullachaqui được thổ dân Amazon gọi là “người giám hộ rừng”. Trong truyền thuyết, El Chullachaqui là một người nông dân lùn, hình dạng giống tiểu yêu, nhỏ bé và khá tinh nghịch. Trong một số tài liệu ghi lại, El Chullachaqui có chân giống chân nai.


El Chullachaqui rất thích “chơi đùa” với người đi rừng. Ông hay dẫn dụ mọi người vào rừng sâu rồi bỏ họ lại, khiến họ bị lạc và không thể thoát ra. Thậm chí, El Chullachaqui còn đóng giả người chỉ đường để đánh lừa những người đi rừng, gây ra biết bao tình huống dở khóc dở cười.


4. Bufeo Colorado - cá heo hồng biết biến hình đi hãm hại các cô gái
Không chỉ thực vật mà những loài động vật cư trú ở trong rừng Amazon cũng mang nhiều truyền thuyết kỳ bí, hấp dẫn. Một trong số đó là loài cá heo hồng. Trong thổ ngữ Amazon, cá heo hồng được gọi là Bufeo Colorado.


Xung quanh Bufeo Colorado có rất nhiều câu chuyện kỳ quái. Theo đó, Bufeo Colorado thường xuyên hóa thành những ngư dân đẹp trai, quyến rũ. “Anh ta” sử dụng vẻ ngoài đó để dụ dỗ các cô gái nhà lành và quan hệ tình dục với họ. Những nạn nhân này sau đó sẽ mang thai và đẻ ra một con cá heo màu hồng.

Các cô gái trẻ, đẹp là mục tiêu của các Bufeo Colorado khi hóa thành người.

Cách duy nhất để bóc trần Bufeo Colorado đó là lừa và đẩy "anh ta" ngã từ trên cao xuống đất. Khi đó, Bufeo Colorad sẽ hiện nguyên hình là một con cá heo hồng và không thể làm hại các cô gái nữa.

5. Pirarucu - chàng chiến binh ngỗ ngược, báng bổ các vị thần
Pirarucu là tên một loài cá nước ngọt sống ở khu vực Amazon với kích thước khổng lồ. Theo thổ dân địa phương, Pirarucu từng là một chiến binh của bộ lạc Uaias tới từ Tây Nam Amazon.

Pirarucu có thể dài tới 3m, nặng 200kg và có khuôn mặt vô cùng dữ tợn.

Trong truyền thuyết, Pirarucu là một chiến binh khỏe mạnh và chiến đấu vô cùng dũng cảm. Nhưng "cậy" mình là con trai của tộc trưởng nên Pirarucu thường hay tự hào quá về bản thân, đôi lúc hành xử khá vô lý. Pirarucu chỉ trích các vị thần không giúp ích gì cho bộ tộc và tuyên bố sẽ trị vì ngôi làng của mình mà không phải thờ cúng các vị thần.

Mặc dù có tố chất nhưng do coi thường các vị thần, Pirarucu đã phải chịu hình phạt thích đáng.

Hậu quả của sự báng bổ là Tupa - vị thần tối cao đã ra lệnh cho các vị thần dưới quyền trừng phạt Pirarucu. Họ đã tạo ra một trận bão lớn khiến dân làng bỏ chạy toán loạn. Chỉ riêng Pirarucu, khi đó đang câu cá, vẫn ngạo nghễ cười, không quan tâm đến trận bão. Ngay sau đó, anh ta bị một tia sét đánh trúng, rơi xuống sông Tocantins và hóa thành một con cá khổng lồ đáng sợ.

6. La Tanrrilla - chim tạo bùa yêu
Sống ven bờ sông trung tâm Guatemala và phía Bắc Brazil, loài vạc nhiệt đới có đôi chân dài La Tanrrilla được mệnh danh là “chim phù thủy”.


Sở dĩ như vậy vì xương chân của La Tanrrilla có thể sử dụng làm bùa yêu. Cụ thể, để khai thác sức mạnh của loài vạc này, người ta sẽ giết chúng, chôn dưới đất tới khi nào thịt mục nát và bị phân hủy hết. Sau đó, xương chân bên phải của loài này được lấy lên. Vậy là đã có một chiếc bùa yêu hoàn chỉnh.


Người sở hữu bùa yêu La Tanrrilla sẽ "bách chiến bách thắng" trong tình trường. Vì cấu trúc xương rỗng nên khi được đào lên, người ta sẽ dùng xương chân này làm ống nhòm và nhìn vào đối tượng mình hướng tới. Sau đó về nhà và ẩn mình 12 giờ đồng hồ và không gặp ai, chắc chắn bạn sẽ giành được con tim người ấy.

Ngược lại, nếu sử dụng xương chân trái của La Tanrrilla và lặp lại quy trình tương tự, người bị bạn nhìn sẽ gặp phải những điều không may mắn trong tình yêu.

Thứ Ba, 1 tháng 10, 2013

Những vụ án "bốc hơi" đầy bí ẩn không manh mối (P.1)

1. Maura Murray

Vụ "bốc hơi" của Maura Murray khiến gia đình cô vẫn ngày đêm lo lắng.

Ngày 9/2/2004, cô sinh viên 21 tuổi của trường Đại học Massachusetts Maura Murray viết email cho các thầy giáo và sếp nơi cô làm việc để thông báo về sự bỏ đi đột ngột của mình. Trong thư, Murray có tiết lộ lý do bỏ đi đường đột này là do cái chết giả diễn ra trong gia đình.

Đêm đó, cô sinh viên trẻ đã gặp tai nạn ô tô trên đường. Ô tô của cô đâm phải gốc cây ven đường gần khu vực Woodsville, thị trấn Haverhill, bang New Hampshire, Mỹ. Điều kỳ lạ khiến giới điều tra phải vắt óc suy nghĩ ở đây là trong vụ tai nạn cách đó chỉ vài ngày, Maura cũng đã làm hư một chiếc ô tô khác.

Một nhân chứng đi ngang qua cho biết, ông đề nghị gọi cảnh sát tới giúp đỡ nhưng Maura đã từ chối. Tuy nhiên, để đảm bảo ông vẫn tới bốt điện gần nhất gọi cho cảnh sát. Nhưng chỉ sau 10 phút, khi cảnh sát tới hiện trường, cô đã... "bốc hơi". Ở đó, người ta phát hiện ra nhiều dấu chân biểu hiện của một cuộc vật lộn. Vì vậy, có thể Maura đã bị ai đó bắt cóc. Ngày hôm sau, chồng sắp cưới của cô gái bỗng nhận được một cuộc gọi được cho là gửi từ cô. Nhưng những gì anh có thể nghe thấy từ đầu dây bên kia chỉ là tiếng khóc nức nở.

Được biết, trước khi Maura mất tích vài ngày, cô luôn thể hiện những hành động lạ. Gia đình cô vẫn không cho rằng con gái mình lại tự nguyện mất tích như vậy bao giờ. Đến nay đã là hơn 9 năm kể từ ngày cô sinh viên trẻ biến mất không lý do, mọi đầu mối liên quan tới vụ án của Maura vẫn chưa được tìm ra.

2. Nicole Morin

Cô bé Nicole Morin bị mất tích ngay trong tòa nhà gia đình sinh sống.


Vụ mất tích đầy bí ẩn của cô bé 8 tuổi Nicole Morin sống tại thành phố Toronto, bang Ontario, Canada kéo dài gần 3 thập kỷ cho tới nay, vẫn là một bức màn bí mật chưa được kéo lên. Ngày 30/7/1985, Nicole rời tòa nhà West Mall nơi gia đình cô bé sinh sống và cũng biến mất bí ẩn ngay hôm đó.

Được biết, vào 10h30' sáng, sau khi xuống sảnh lấy thư, Nicole lên kế hoạch đi bơi cùng bạn ở bể bơi của tòa nhà. Sau khi chào tạm biệt mẹ, cô bé rời khỏi căn hộ gia đình. Tuy nhiên 15 phút sau, bạn của Nicole lại gọi điện hỏi tại sao cô bé vẫn chưa tới chỗ hẹn.

Cảnh sát bắt đầu vào cuộc điều tra vụ án mất tích đầy bí ẩn này. Được biết, đây được coi là một trong những vụ án lớn nhất của lịch sử Toronto, nhưng đáng tiếc, những tình tiết liên quan tới cô bé Nicole vẫn là một nút thắt không thể mở ra. Giả thiết mà nhiều người nghĩ tới ban đầu là cô bé đã bị bắt cóc ngay khi rời khỏi căn hộ gia đình. Nhưng thật mâu thuẫn, tòa nhà có tới 20 tầng, vì vậy, rất khó để đưa được cô bé ra ngoài mà không bị phát hiện.

Một gia đình nhân chứng cho biết, họ đã nhìn thấy Nicole sử dụng thang máy. Tuy nhiên, ngoài những người này ra, không ai khác nhìn hay nghe thấy bất cứ điều gì trong thời điểm xảy ra vụ án.

Và có lẽ sau nhiều năm nữa, các nhà điều tra vẫn sẽ không thể tìm ra bất cứ bằng chứng nào cho biết điều gì đã xảy ra với cô bé Nicole.

3. Brandon Swanson

Manh mối cuối cùng là khi Brandon chửi thề trên điện thoại với bố.


Cậu thanh niên Brandon Swanson, 19 tuổi đang trên đường trở về quê vào tối ngày 14/5/2008 thì bất ngờ chiếc ô tô bị tai nạn lật ngửa trên đoạn đường sỏi. Ngay lập tức, Brandon đã lấy điện thoại di động gọi cho bố mẹ cậu tới cứu cậu ra.

Thật lạ, khi tới nơi họ không thể tìm thấy Brandon đâu. Bố của cậu gọi lại vào số của con trai thì được biết cậu đang tới thị trấn Lynd gần đó. Cuộc hội thoại ngắn ngủi giữa hai bố con nhanh chóng chấm dứt khi bỗng nhiên Brandon chửi thề rồi dập máy. Với hy vọng tìm ra con trai, bố của Brandon có gọi lại vài lần nữa nhưng ông không nhận được bất cứ câu trả lời nào. Mọi manh mối để tìm ra Brandon đều đi vào ngõ cụt.

Sau đó, cảnh sát đã vào cuộc. Họ tìm thấy ô tô của Brandon nhưng lại không thể xác định được vị trí của cậu cũng như vị trí cuộc gọi. Một giả thiết được đặt ra lúc đó là có thể Brandon đã bị rơi xuống một con sông gần đó và chìm xuống đáy. Nhưng giả thiết này nhanh chóng bị bác bỏ vì họ không thể tìm thấy xác của cậu thanh niên.

Cho đến bây giờ, vẫn không thể biết ai là người đã xúi bẩy Brandon chửi thề trong cuộc điện thoại hôm đó. Chỉ có thể khẳng định, đó là thông tin cuối cùng mọi người biết về anh chàng này.